Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

CẨM KHÊ DI HẬN

HỒI 84

 

Quyển I

Quyển II

Quyển III

Quyển IV

 

In ra

 HỒI THỨ TÁM MƯƠI BỐN

Ba thu gánh vác sơn hà
(Đại-Nam quốc sử diễn ca)

 

Lê Ngọc-Trinh , xuất thân đệ tử danh gia. Ái đồ Khất đại phu. Được sư phụ sai xuất hiện giúp Trần Năng thống nhất ba mươi sáu động Nam Mê-Linh. Thay sư phụ quản trị các trang ấp của Lê Đạo-Sinh. Dùng nhân nghĩa cai trị dân. Được dân chúng kính yêu, tôn là Tiên cô giáng phúc. Theo quân ṭng chinh Trung-nguyên, trấn giữ hậu quân. Dùng y đạo cứu trị cho dân. Khắp vùng đóng quân, người người yêu mến. Lệnh khởi binh ban ra, điều động tráng đinh, một đêm đánh chiếm bốn thành, chiếm lại hai mươi ba trang ấp trong tay giặc. Sắc phong Đại từ chí nhu công chúa. Tính thích ngao du, trị bệnh trăm họ, không muốn hưởng lộc trang ấp. Thuận theo ư, không phong thực ấp. Trao ấn Chinh-thảo đại tướng quân. Phó thống lĩnh đạo quân Quế-lâm. ( Bà này là thầy thuốc, quá hiền lành, th́ tuy có tài, cũng chỉ có thể làm phó thôi. Làm chánh th́ giết giặc sao được. Chức của bà tương đương với ngày nay là Phó Tư-lệnh quân đoàn).

Lê Thị-Lan , xuất thân đệ tử danh gia. Được sư phụ sai đem thư vào yết kiến Đào Thế-Kiệt. Giữa đường gặp Hoàng Đức-Phi. Khảng khái dạy bảo, chí khí được tỏ, tài năng đă phát. Lệnh khởi binh ban ra, suất lĩnh tráng đinh đánh chiếm hai thành, bốn trang ấp. Áp bức giặc đầu hàng, khiến máu không đổ, lương tiền không mất. Sắc phong Nhu-mẫn công chúa. Lĩnh ấn Trấn-tây tướng quân. Phó thống lĩnh đaọ binh Hán-trung. ( Bà này đúng là nhu, là mẫn. V́ bà quá hiền. Chức của bà tương đương với ngày nay là Phó tư lệnh quân đoàn).

Phật-Nguyệt , được Lĩnh-nam thần kiếm Nguyễn Phan thu nhận làm đệ tử. Kiếm thuật thần thông. Tính t́nh nhu thuận, hiền ḥa. Văn đă giỏi. Mà tài dùng binh sớm phát. Trận đánh Xuyên-khẩu, Bạch-đế, làm Đô-đốc, thắng thủy quân Thục. Trước sân rồng Quang-Vũ, dùng kiếm thuật trấn áp quần hùng Trung-nguyên. Đánh bại Thái-sơn thần kiếm Hoài-nam vương. Khéo ở chỗ, thắng không kiêu, khiến Hoài-nam vương trở thành bạn tốt của Lĩnh-Nam. Hiện trấn thủ hồ Động-đ́nh, nhiệm vụ trọng yếu. Sắc phong Phật-Nguyệt công chúa. Lĩnh ấn Chinh-bắc đại tướng quân. V́ sớm giác ngộ đạo Phật, bỏ ra ngoài công danh, từ khước hưởng lộc thực ấp. Đạo hạnh thực đáng kính, đáng khen. ( Bà này là một trong 12 nữ đại công thần thời Lĩnh-Nam. Tên bà không những được ghi vào sử Việt mà được ghi vào sử Trung-quốc. Bà lĩnh trọng trách tổng trấn khu hồ Động-đ́nh, Trường-sa, tức biên giới Lĩnh-Nam với Hán. Di tích về bà hiện c̣n rất nhiều : Tại chùa Kiến-quốc thuộc Trường-sa, tại ngôi chùa trên núi Thiên-đài trong ngọn núi Ngũ-lĩnh. Bà là một nữ tướng gây kinh hoàng cho triều Hán nhất).

Trần Năng, có chí phục quốc thời thơ ấu. Được đệ nhất danh nhân thu làm đồ đệ. Vơ công vô địch thiên hạ. Tính khí cương trực, khảng khái. Biết hóa giải cừu thù, trao quyền thống lĩnh Lôi-sơn cho Đinh Hồng-Thanh. Ṭng chinh Trung-nguyên, đánh Xuyên-khẩu, Bạch-đế, vào Thành-đô. Lui về đánh chiếm chín quận Kinh-châu từ tay Hán. Xứng tài đại tướng quân. Sắc phong Yên-lăng công chúa. Ăn lộc vùng Toàn-liệt, Thượng-hồng. Xét tài trí, lĩnh Long-nhượng đại tướng quân, quản lĩnh Trung-quân, đóng tại Mê-linh. Chồng là Hùng Bảo, chí khí khác thường, thâm trầm, hào phóng. Suốt mấy năm trấn giữ binh quyền Lục-hải, tổ chức thao luyện binh mă. Giữ bờ cơi không bị trộm cướp. Lệnh khởi binh ban ra, suất lĩnh đạo quân Lục-hải, đánh chiếm toàn bờ biển vùng Giao-chỉ. Tiến về vây Long-biên. Có công đầu tại Long-biên. Thuận thế đem quân đánh Kư-hợp, Luy-lâu. Uy dũng nhất thế. Sắc phong Vũ-kị đại tướng quân, thống lĩnh Ngự-lâm quân. Tước Thượng-hồng công.

(Ông bà này giữ chức vụ nhỏ nhưng tín cẩn. Bà làm Tư-lệnh lực lượng trừ bị quốc gia. Ông là Tư-lệnh lực lượng pḥng vệ phủ Tổng-thống. Đây là cặp vợ chồng thuận ḥa với nhau nhất. Bà th́ ồn ào, vui vẻ, li lắc. Ông th́ thâm trẫm. Về đời Trần, nhân công chúa Thủy-Tiên, dưỡng nữ của Hưng-Đạo vương được gả cho danh tướng Phạm Ngũ Lăo... Hai vị có hành trạng giống Trần Năng, Hùng Bảo, nên thế truyền hai vị tái đầu thai.

Trần Quốc, mồ côi từ nhỏ. Xuất thân đệ tử danh gia. Tự luyện thành bản lĩnh hơn Giao-long. Tuổi mười bảy làm Đô đốc, đánh chiếm Độ-khẩu, Mỹ-cơ. Sau trợ chiến Trưng Nhị, đánh chiếm suốt giải đông Ích-châu. Trận chiến Trường-an, chỉ huy thủy quân đánh chiếm Vị-nam, khiến Quang-Vũ kinh hồn bạt vía. Lệnh khởi nghĩa ban ra, kéo thủy quân trấn nhậm bắc Nam-hải. Sắc phong Gia-Hưng công chúa. Ăn lộc vùng Hoàng-xá, Gia-hưng. Lĩnh ấn Đô-đốc, chưởng quản thủy quân trấn bắc Nam-hải. ( Tương đương với ngày nay là Tư-lệnh hải quân. Bà này là một tướng hét ra lửa, mửa ra khói thời Lĩnh-Nam).

Trần-gia tam-nương, xuất thân danh gia đệ tử. Ba chị em lập chiến khu chống Hán. Khi ṭng chinh Trung-nguyên, đánh chiếm Kiếm-các, Dương-b́nh quan. Lệnh khởi nghĩa ban ra, đem hai ngàn tráng đinh, đánh chiếm bảy đồn từ B́nh-xuyên tới Cổ-loa. Đoạt cố đô Cổ-loa từ tay giặc trở về. Sắc phong Hồng-Nương làm An-B́nh công chúa. Thanh-Nương làm B́nh-Xuyên công chúa. Đạm-Nương làm Quất-Lưu công chúa. Ăn lộc các vùng này. Giao lĩnh ấn thống lĩnh kị binh Lĩnh-Nam. (Tương đương với ngày nay là Tư-lệnh thiết giáp binh).

Nguyễn Quư-Lan, xuất thân Tản-viên. Văn mô, vũ lược. Lệnh khởi binh ban ra, bày mưu cho Tượng-quận vương, đánh chiếm Tượng-quận từ tay người Hán. Tổ chức cai trị hoàn hảo. Sắc phong Liên-Sơn công chúa. Lĩnh Lễ bộ thượng thư. (Tương đương với ngày nay là Bộ trưởng bộ Văn-hóa giáo dục.

Đào Phương-Dung , xuất thân gịng dơi trung lương. Văn vơ song toàn. Ấu thời được phụ thân luyện chí phục quốc. Lệnh khởi binh ban ra. Chỉ huy hai ngàn tráng đinh trang Hiển-minh, chiếm lĩnh tám đồn phía nam Luy-lâu, không đổ một giọt máu, không tốn một mũi tên. Khi giặc cố thủ Long-biên, theo thân phụ đánh thành. Thân đi trước tướng sĩ. Vào được thành, chỉ huy binh tướng tiếp thu. Giặc đánh Kư-hợp, Nam-thành vương tuẫn quốc, lại theo phụ thân đánh giặc. Phá tan quân giặc ở Kư-hợp. Uy vũ khiến ba quân kính phục. Sắc phong Đăng-Châu công chúa. Ăn lộc vùng Đăng-châu. Lĩnh ấn Trấn-nam đại tướng quân. Thống lĩnh đạo binh Giao-chỉ. (Tương đương với ngày nay là Tư-lệnh quân đoàn. Bà là một trong các nữ đại tướng hét ra lửa, mửa ra khói thời Lĩnh-Nam).

Đinh Bạch-Nương, Đinh Tĩnh-Nương, xuất thân gịng dơi trung lương. Văn vơ kiêm toàn. Giỏi thủy tính. Khi lệnh khởi binh ban ra, suất lĩnh tráng đinh Đào, Đinh trang, đánh chiếm hai huyện, ba thành của giặc trong hai ngày. Không tốn một giọt máu, một mũi tên. Theo Đào vương bắc chinh, cứu viện Giao-chỉ. Công hăm Luy-lâu. Sắc phong Đinh Bạch-Nương làm Tam-Sơn công chúa. Đinh Tĩnh-Nương làm Quân-Sơn công chúa. Chị làm Đô-đốc thống lĩnh thủy quân hồ Động-đ́nh, vùng Trường-sa. Em làm phó. ( Hai bà này là hai nữ tướng can trường, cương quyết bậc nhất thời Lĩnh-Nam. Sử Hán liệt hai bà là hai nữ tướng khạc ra lửa).

Trần Thị Phương-Chi , tính thích ngao du sơn thủy, không thích công danh. Sớm ngộ đạo Bồ-đề. Được Bồ tát Tăng-Giả Nan-Đà cho thụ giới Tỳ kheo ni. Kính dâng tôn hiệu Lĩnh-nam Bồ-tát.

Trần Thị Vĩnh-Huy, đệ bát Thái-bảo phái Sài-sơn. Văn mô, vũ lược. Lệnh khởi binh ban ra. Suất lĩnh đệ tử đánh từ Vân-hà đến Long-biên. Hợp quân vây đánh Long-biên. Sắc phong công chúa Vĩnh-Huy. Lĩnh Thượng-thư bộ lại. (Tương đương với ngày nay là bộ trưởng bộ Nội-vụ).

Vương Sa-Giang , xuất thân cành vàng lá ngọc, đệ tử danh gia. Vơ công tuyệt thế, sớm nổi tiếng Thiên sơn cầm tiên. Văn tài lỗi lạc. Nhan sắc khó t́m. V́ giữ lời hứa đánh cuộc với Tây-vu Thiên-ưng lục tướng, đem thân thể ngọc ngà sang giúp Lĩnh-Nam. Tài đă trọng, đức càng thêm kính. Sắc phong Lĩnh-nam công chúa. Truyền theo Tây-vu Thiên-ưng lục tướng, tiếp giúp Lĩnh-Nam. (Bà là một nhân vật lịch sử. Hiện ngoại ô huyện Phong-đô tỉnh Tứ-xuyên có đền thờ bà. Trong những năm làm việc cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaçeurtique= CEP, 1977-1999) trước sau tôi vào Tứ-xuyên 4 lần. Lần nào tôi cũng đến đền thờ bà dâng lễ và xin... xâm. Linh ứng kỳ lạ).  

Nguyễn Giao-Chi , xuất thân gịng dơi trung lương, đệ tử danh gia. Tài âm nhạc không thua Trương Chi. Bàn tay tiên hóa phép được những món ăn tuyệt thế. Ôn nhu, văn nhă. Thế mà một tay điều khiển Mai-động ngũ hùng, đội Giao-long binh đánh úp Độ-khẩu. Sau đó đánh Hán-nguyên, Mỹ-cơ. Lại theo đạo Kinh-châu giúp Trưng Nhị đánh úp Quảng-an. Dự trận Trường-an, ra sức đánh Vị-nam trong đêm. Hiện đă kết hôn với Đô Dương, xin đứng ngoài ṿng danh lợi. Thuận theo ư muốn. Sắc phong làm Ḥa-Huệ công chúa. Ban cho hiệu Mai-Động tiên tử.

Tây-vu tiên-tử , tuổi quá sáu mươi, thay Hồ Đề thống lĩnh Tây-vu. Lệnh khởi binh ban ra, suất lĩnh đệ tử Tây-vu, đánh chiếm huyện Tây-vu, gồm hai thành, mười đồn trong ba ngày. Hợp hàng binh, với đệ tử có sẵn, lập thành quân đoàn Tây-vu. Tài thực đáng trọng, đức càng đáng kính. Sắc phong Thiên-Sớ công chúa. Ăn lộc suốt vùng núi Thiên-sớ. Thống lĩnh quân đoàn Tây-vu.

Lục Phong-Nữ, tính t́nh nhu thuận, hiền ḥa. Tuổi chưa quá mười tám, theo quân đánh Trung-nguyên. Trận Xuyên-khẩu, Bạch-đế ra tài, kinh tâm anh hùng đất Bắc. Trận Trường-an, xung vào muôn ngh́n tên, đánh Quang-Vũ, và hai mươi lăm vạn quân, bỏ thành chạy. Sắc phong Thiên-Phong lục công chúa. Truyền lĩnh chức đại tướng quân, theo sáu đạo Lĩnh-Nam pḥng vệ đất nước.

Ngũ-Long công chúa , khôn ngoan, sắc sảo. Tuổi chưa quá mười tám. Theo quân ṭng chinh Trung-nguyên. Một trận Độ-khẩu, khiến anh hùng Trung-nguyên kinh hồn. Sau đó theo quân đánh Hán-nguyên, vào Thành-đô. Sắc phong Ngũ-Long công chúa. Truyền lĩnh ấn đại tướng quân. Trấn nhậm Bắc Lĩnh-Nam.

Hoàng Thiều-Hoa, mồ côi từ nhỏ, phải đi chăn trâu. Bị đánh đập khổ sở. Được Đào hầu Cửu-chân đem về nuôi dạy. Văn, vơ toàn tài. Ôn nhu, hiếu thuận, sắc nước hương trời. Đào hầu bị Thái thú Nhâm Diên làm cho tan nhà nát cửa. Bị phản đồ Trịnh Quang vu oan. Can đảm chịu đựng. Được Lĩnh-nam công tuyển làm phu nhân. Vẫn không quên chí phục quốc. Dùng uy Lĩnh-nam công phu nhân, che chở cho Trưng Nhị, Đào Kỳ, Phương-Dung, Vũ Trinh-Thục phục quốc. Sát bên cạnh Lĩnh-nam công, giết bọn quan Hán tham ô, cứu người Việt gặp khốn khổ. Lại khi ṭng chinh Trung-nguyên, không nghĩ ḿnh là vương phi, cầm quyền đại tướng đánh Độ-khẩu, Hán-nguyên, Phổ-khách, vào Thành-đô. Lĩnh-nam vương bị Quang-Vũ phản. Cầm quyền đại tướng quân đánh Hán. Trận Trường-an kinh tâm động phách Hán đế. Lịnh khởi binh ban ra. Hăm hở cầm quân đánh chiếm Luy-lâu, Long-biên. Công trạng đối với Lĩnh-Nam vào bậc nhất. Nay theo Thái thượng hoàng Trần Tự-Sơn vân du mây nước. Kính dâng tôn hiệu:

Minh từ, chí nhu,
Ôn huệ, thuần chính,
Hoàng thái hậu.  

Trưng Đế truyền phong các anh hùng:

Cao Cảnh-Minh, thần tiễn vang thiên hạ. Vơ công, hiệp nghĩa khắp Lĩnh-Nam, Trung-nguyên, không ai mà không nghe danh. Tuổi cao, ḷng son đối với xă tắc vẫn sáng chói. Đánh Vơ-đô, dùng hiệp nghĩa tha anh hùng. Chiếm Dương-b́nh quan, trổ tài thần tiễn. Tính thích ngao du sơn thủy, chẳng ham công danh. Sắc phong Nhân-hiệp nghĩa dũng quốc công.

Cao Cảnh-Sơn , chưởng môn phái Hoa-lư. Thần tiễn kinh nhân. Chế được nỏ thần. Xuất chiến Trường-an. Bắn chết hơn ngàn tướng Hán, bắn ngă mấy vạn binh giặc. Hùng khí Cao-cảnh hầu sống lại. Sắc phong Cao-cảnh công. Lĩnh ấn đại tướng quân. Thống lĩnh Thần-nỏ Lĩnh-Nam. (Như vậy chức ông cụ này tương đương với ngày nay là Tư-lệnh pháo binh).

Cao Cảnh-Nham, Cao Cảnh-Khê, xuất thân đệ tử danh gia. Trung dũng có thừa. Theo thân phụ, đánh trận Trường-an. Khiến Quang-Vũ bay hồn bạt vía. Sắc phong liệt hầu. Lĩnh chức tướng quân, theo cha trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

Đô Thiên , dùng hiệp nghĩa kết bạn với Lĩnh-nam vương Trần Tự-Sơn. Tước phong tới hầu, lĩnh chức thứ sử Hán-trung. Khi nghe vương bị Quang-Vũ bắt giam. Khảng khái bỏ quan chức, dẫn năm vạn quân, tụ nghĩa hồ Động-đ́nh. Nghĩa khí đáng trọng thay. Sắc phong Động-đ́nh công. Lĩnh ấn Trung-nghĩa đại tướng quân. Thống lĩnh đạo quân Hán-trung. Tổng trấn Trường-sa. (Ông này là người Trung-quốc, ứng nghĩa theo Lĩnh-Nam. Hiện vùng Lưỡng-Quảng qua rất nhiều miếu, đền thờ ông. Ông là người đại nhân, đại nghĩa, không vợ, chẳng con. Lương tiền có bao nhiêu ông chia cho quân sĩ. Trong khu vực đóng quân, ông cho quân giúp dân làm nhà, trồng cấy).

Minh-Giang, xuất thân đệ tử danh gia. Lĩnh ấn Phấn-uy đại tướng quân. Thống lĩnh đạo binh Quế-lâm đánh Thục. Lịnh khởi nghĩa ban ra, chỉ huy binh tướng nhanh chóng, bức các huyện lệnh, huyện úy đầu hàng. Sắc phong Phiên-ngung công. (Ông cũng là người Hoa, nhưng ghét chế độ tàn bạo của Hán mà theo Lĩnh-Nam. Ông là người cổ vơ cho tinh thần Hoa-Việt một nhà thời Lĩnh-Nam).

Đặng Đường-Hoàn , tính khí cương trực. Suốt bao năm thống lĩnh nghĩa quân bất phục người Hán. Làm cho Tô Định, Lê Đạo-Sinh lao đao, khốn khổ. Dạy được ba đệ tử Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang đều là đấng anh hùng. Lệnh khởi nghĩa ban ra, đốc suất đệ tử, tráng đinh, đánh chiếm ba huyện, mười lăm đồn trong hai ngày. Lại có công đánh tan đội binh tà đạo của Lê Hinh mười lăm ngàn người. Sắc phong Long-biên công, tổng trấn Long-biên.

Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đệ tử danh gia, khí phách anh hùng. Văn vơ toàn tài. Theo sư phụ, khởi binh chống Hán. Có công đánh chiếm ba huyện, mười lăm đồn, dẹp mười lăm ngàn quân tà đạo Lê-Hinh. Sắc phong Liệt-hầu, lĩnh chức Phiêu-kị đại tướng quân. Trấn thủ Độ-khẩu, sẵn sàng tiếp ứng Thục.

Nguyễn Tam-Trinh, hào khí phục quốc từ nhỏ. Văn vơ toàn tài. Năm con trai nổi tiếng Mai-động ngũ hùng. Con gái là Nguyễn Giao-Chi, cùng đội Mai-động ṭng chinh, đánh chiếm Độ-khẩu, Vị-nam. Mới đây suất lĩnh tráng đinh, đánh bảy đồn, chiếm hai thành gần Long-biên. Sắc phong Mai-động công. Lĩnh chức Đại tư không.

Chu Bá, văn vơ toàn tài. Biết chọn nẻo chính, bỏ đường tà. Sắc phong Bắc-đái công. Lĩnh Binh-bộ thượng thư.

Vũ Công-Chất, đệ ngũ Thái-bảo phái Sài-sơn. Văn vơ song toàn. Thống lĩnh tráng đinh kháng chiến tại Phượng-lâu. Mười năm làm cho giặc kinh hồn táng đởm. Sắc phong An-định công. Lĩnh H́nh-bộ thượng thư.

Trần Quốc-Hương , đệ thất Thái bảo phái Sài-sơn. Khởi nghiệp từ Thiên-trường, khí phách uy nghi. Tô Định bao phen cử ra làm quan từ chối. Lệnh khởi binh ban ra, một đêm chiếm trọn Nam-hải. Sắc phong Thiên-trường công. Tổng trấn Thiên-trường.

Quách Lăng, đệ tử danh gia. Tài kiêm văn vơ. Tùng chinh đánh Trường-an. Sắc phong Ngọc-đường công. Lĩnh ấn Phấn-oai đại tướng quân. thống lĩnh đạo binh Cửu-chân, pḥng vệ nam Lĩnh-Nam.

Đào Hiển-Hiệu , xuất thân gịng dơi trung lương. Trước đă được phong Hổ-nha đại tướng quân, thống lĩnh đạo binh Tượng-quận, đánh chiếm Độ-khẩu, nhập Thành-đô. Đem đạo binh từ Thục về Tượng-quận yên lành. Lệnh khởi binh ban ra. Đánh chiếm Tượng-quận trong ba ngày. Dẹp yên được mầm mống phản loạn của bọn Hán tham tàn. Tước phong Khúc-dương công. Thống lĩnh đạo binh Tượng-quận như cũ.

Đào Quí-Minh , xuất thân gịng dơi trung lương. Lệnh khởi binh ban ra. Suất lĩnh đạo binh Đăng-châu trước bức Luy-lâu. Sau đánh Long-biên. Phá giặc ở Kư-hợp. Sắc phong Kư hợp công. Lĩnh ấn phó thống lĩnh đạo binh Tượng-quận.

Vương Phúc , xuất thân cành vàng lá ngọc. Văn vơ toàn tài. Lĩnh chức B́nh-nam vương nước Thục. Giữa trận tiền, dùng nghĩa kết bạn với Đào Kỳ. Được Thục đế cử sang giúp Lĩnh-Nam, hiện làm quân sư cho Đô-đốc thủy quân Trần Quốc. Truyền gả Trần Quốc về với Vương Phúc, cho thành đôi thư hùng. Sắc phong Trấn-nam vương.

Tây-vu Thiên-ưng lục tướng , mồ côi cha mẹ, được Hồ Đề đem về nuôi dạy. Bản lĩnh chỉ huy Thần-ưng siêu việt. Tuổi mười lăm, mười sáu dẫn sáu trăm Thần-ưng ṭng chinh Trung-nguyên. Trận Xuyên-khẩu khiến anh hùng đất Thục kinh hồn động phách. Trận Bạch-đế, chiếm thành đầu tiên. Trận Trường-an, đánh Quang-Vũ chạy trên trăm dặm. Tinh khôn, trung liệt, bí mật nhập Lạc-dương cứu sư tỷ Thiều-Hoa. Khảng khái, hào hiệp, can đảm. Đào Tứ-Gia có tâm Bồ-tát, nguyện hy sinh tính mệnh cứu sư huynh, cho rằng sư huynh cần sống, bảo vệ Lĩnh-Nam. Vơ đạo cao như vậy, cổ kim chưa từng có. Nay năm người c̣n sống, tài đáng đại tướng. Sắc phong cho Đào Tứ-Gia làm: Đại nhân, chí đức, minh nghĩa đại vương.

Truyền xây cất đền thờ ở Tây-vu.

C̣n lại năm người, sắc phong:

- Lĩnh-Nam Thiên-ưng đại tướng quân, tước Liệt-hầu. Truyền trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

Tây-vu lục hầu tướng , mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Được Hồ Đề đem về nuôi dạy. Tài điều khiển Thần-hầu như đội quân tinh nhuệ. Vượt núi Kim-sơn, vào Thục. Từ cổ không ai làm được. Đấu leo dây với Thanh-Châu, nêu rơ tài Phù-Đổng của thiếu niên Lĩnh-Nam. Trận Trường-an, đột nhập thành, đánh Quang-Vũ đến phải bỏ đất Tần mà chạy. Sắc phong: Lĩnh-Nam Thần-hầu tướng quân, tước Liệt hầu. Truyền trấn thủ bắc Lĩnh-Nam.

Tây-vu tam báo tướng , mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Được Hồ Đề đem về nuôi dạy. Tài điều khiển báo, xung phong hăm trận. Dự trận Vơ-đô, Dương-b́nh quan, Kiếm-các, Trường-sa. Lập đại công. Mới đây đánh Long-biên, Luy-lâu. Lưu danh muôn thủa. Sắc phong Lĩnh-nam Tam-báo tướng. Tước Liệt-hầu truyền trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

Hồ Hác, tài trí hơn người. Điều khiển đoàn Thần-tượng, đánh trận Xuyên-khẩu, Bạch-đế, Quảng-an, vào Thành-đô. Trận Trường-an khiến hai mươi lăm vạn quân Tần bị dẫm nát. Sắc phong Tượng-uy đại tướng quân. Tước Tiên-sơn hầu. Truyền trấn đóng Bắc Lĩnh-Nam pḥng giặc.

Ngao-sơn tứ lăo , tuổi đă cao. Tâm tính trung hậu. Chỉ huy đội Thần-ngao canh pḥng, trinh sát. Khắp các trận Trung-nguyên đều có mặt. Sắc phong Ngao-sơn đại tướng quân. Tước Liệt-hầu. Truyền trấn đóng Bắc Lĩnh-Nam pḥng giặc.

Mai-động Ngũ-hùng , Nguyễn Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Gịng dơi trung lương. Tài kiêm văn vơ. Dẫn đội tráng đinh Mai-động, đánh úp Độ-khẩu. Sau chiếm Vị-nam. Tài trí đă hơn đời. Trung liệt càng sáng tỏ. Sắc phong Mai-động liệt-hầu. Đội Mai-động được phong làm Thần-ḱnh Lĩnh-Nam.

– Thiên-trường Tam-kiệt, Trần Quốc-Dũng, Trần Quốc-Uy, Trần Quốc-Lực . Gịng dơi trung lương, con trai lạc hầu Thiên-trường Trần Quốc-Hương. Khi cha trọng nhậm Nam-hải, thay cha trấn Thiên-trường. Ngày đêm nuôi chí phục quốc. Lệnh khởi binh ban ra. Ba anh em đánh chiếm ba thành, chín đồn từ Thiên-trường tới Long-biên. Đem tráng đinh vây Long-biên, đánh Luy-lâu. Chí khí hào hiệp. Sắc phong Trần Quốc-Uy làm Kiến-xương hầu. Trần Quốc-Dũng làm Giao-thủy hầu. Trần Quốc-Lực làm Trung-thành hầu. Đồng lĩnh ấn đại tướng quân. Trấn thủ Thiên-trường, Lục-hải.

Thần-nỏ Âu-lạc Tứ-hùng, xuất thân danh gia đệ tử. Tiễn thủ xuất chúng. Được cử ṭng chinh Trung-nguyên. Trước xuất thủ đánh chiếm Vơ-đô, Nam-b́nh, B́nh-vơ. Sau đánh Dương-b́nh-quan, Kiếm-các. Tại Cẩm-dương, dùng tiễn thủ chinh phục tướng Thục. Giữa trận kết nghĩa huynh đệ. Dũng, lược, nghĩa, mưu toàn tài. Sắc phong Liệt-hầu. Truyền lĩnh ấn đại tướng quân, trấn thủ Bắc Lĩnh-Nam.

Hợp-phố Lục-hiệp , đại nhân, đại nghĩa, đại hiệp. Theo Lĩnh-nam công chinh tiễu các thái thú tham ô, giết bọn Hán tàn ác. Lĩnh chức Thái-thú, Đô-úy khắp vùng Lĩnh-Nam. Đâu đâu cũng gây được kính trọng trong dân. Nay Lĩnh-Nam phục hồi. Không muốn vướng mắc công danh. Thuận cho được ngao du sơn thủy, trao quyền ngang với Lạc-vương. Thấy tham quan, ác bá bất kể cấp nào, được quyền chém đầu răn chúng. Đổi tên Hợp-phố lục hiệp thành Lĩnh-nam lục hiệp. Riêng Lưu Nhất-Phương tuẫn quốc, sắc phong: Nhân dũng, đại nghĩa bảo quốc đại vương.

Truyền cấp hai mươi mẫu đất tốt làm hương hỏa. Quanh năm thờ kính.

Ngoài ra các anh hùng khác đều lĩnh chức tước của các Lạc-vương, không thấy ghi trong bảng phong công thần.

Sau đây, một vài chi tiết t́m được:

Cửu-chân:

    Lạc vương : Đô Dương.g.

    Tư-mă: Lạc công Đinh Đại.

    Tư-đồ : Nghi-sơn hầu Đào Nghi-Sơn.

    Tư-không: Biện-sơn hầu Đào Biện-Sơn.

Giao-chỉ:

    Lạc vương : Trưng Nhị.

    Tư mă : Thọ-xương hầu Trần Dương-Đức.

    Tư đồ : Phương-nghi hầu Chu Thổ-Quan.

    Tư không : Tần-lĩnh công Đặng Thi-Kế.

Nhật-nam :

    Lạc vương : Lại Thế-Cường.

    Tư mă : Linh-việt hầu Trương Thủy-Hải.

    Tư đồ : Dương-tĩnh hầu Trương Đằng-Giang.

    Tư không : Kiến-b́nh hầu Trần Khổng-Chúng.

Quế-lâm :

    Lạc vương : Lương Hồng-Châu.

    Tư mă : Lôi-sơn công Đinh Công-Thắng

    Tư đồ: Linh-lăng công Triệu Anh-Vũ.

    Tư không : Nam-sơn công Phan Đông-Bảng.

Tượng-quận:

    Lạc vương : Hàn Bạch.

    Tư mă : Quế-dương hầu Chu Đức.

    Tư đồ: Nghi-dương hầu Vương Hồng.

    Tư không : Giao-sơn hầu Chu Thanh.

Nam-hải:

    Lạc vương : Trần Nhất-Gia.

    Tư mă: Khúc-giang công Trần Nhị-Gia.

    Tư đồ : Trung-sơn công Trần Tam-Gia.

    Tư không : Nhu-sơn công Trần Tứ-Gia.

C̣n hai vị, địa vị cao cả, Trưng hoàng đế không phong chức tước, chỉ ban chiếu tôn xưng.

    Thứ nhất Khất đại phu Trần Đại-Sinh:

Chí nhân, đại từ, thánh y.
Lĩnh-Nam tiên ông.  

    Cựu hoàng đế Trần Tự-Sơn, được tôn làm:

Ứng càn, ngự cực,
Thần Văn, Thánh Vơ,
Long Công, Thịnh Đức,
Nhân Huệ, Chí Minh,
Thái thượng hoàng đế.  

Sau khi tuyên đọc sắc chỉ. Ngài hô lớn:

– Các con dân Lĩnh-Nam, qú gối trước bàn thờ Quốc-tổ.

Toàn thể văn thần vơ tướng qú gối. Lễ tám lễ.

Tiếp theo các lạc vương chúc tụng Lĩnh-Nam hoàng đế. Người vui nhất là Đào Thế-Kiệt, tức Cửu-chân vương. Ngài cười lớn:

– Từ khi biết nghe, biết nói. Tôi chỉ mơ có ngày hôm nay. Sau ngày phục quốc đến giờ. Nhiều lúc tôi tự hỏi: Ḿnh mê hay tỉnh đây?

Lạc vương Nam-hải Trần Nhất-Gia hỏi:

– Bây giờ Đào vương gia định làm ǵ?

Đào vương ngơ ngẩn, nh́n Trưng hoàng đế, nh́n bàn thờ Quốc-tổ, nh́n anh hùng các nơi, nh́n vợ nh́n con, nh́n đệ tử. Ngài lắc đầu:

– Làm ǵ ư? Bây giờ, tôi sướng quá. Hạnh phúc quá... Không... không c̣n... ǵ...

Đến đây mắt ngài trợn ngược. Đứng im trên đài. Trần Năng kinh hoảng, vọt người lên. Cầm tay ngài bắt mạch. Gọi lớn:

– Thái sư phụ! Thái sư phụ!

Nhưng đă trễ, mạch không c̣n nhảy nữa. Bà nói với Đào vương phi:

– Thái sư phụ đă qui tiên rồi!

Trưng hoàng đế nói lớn:

– Các anh hùng nghe đây: Cửu-chân Đào vương, suốt đời ưu tư lo phục quốc. Nay được toại nguyện. Ngài vui quá, mà qui tiên. Đă đành sinh ra, ai cũng phải chết. Song Đào vương chết như thế thực vui sướng mà chết. Đó là phần thưởng quí báu nhất cho người anh hùng suốt đời lao tâm khổ tứ với đại cuộc đất nước. Chúng ta không nên buồn.

Ngài truyền đặt xác Đào vương trước bàn thờ Quốc-tổ. Lệnh anh hùng các nơi đến trước ngài làm lễ, từ biệt. Ngày hôm đó truyền khâm liệm, mang về Cửu-chân an táng. Truyền cả nước để tang.

Ba hôm sau...

Giao-chỉ vương Trưng Nhị hỏi các anh hùng Cửu-chân:

– Nước không nên để một ngày không vua. Đào vương qui tiên. Vậy các anh hùng Cửu-Chân hăy suy cử người thay thế.

GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ :

Kể từ đây, chúng tôi dùng danh xưng hoàng đế Lĩnh-Nam, Trưng Đế, Trưng hoàng đế để gọi Trưng Trắc. Và Trưng vương, Giao-Chỉ vương để gọi Trưng Nhị.

Khác hẳn với các vùng khác. Anh hùng Cửu-chân, người người đồng một tâm. Họ liếc nh́n Đào Kỳ. Trưng đế biết quần hùng muốn suy cử Đào Kỳ.

Ngài phán:

– Anh hùng Cửu-chân muốn suy cử ai cũng được. Duy Đào tam đệ th́ không nên. Đào đệ đă lĩnh chức Bắc-b́nh vương, lĩnh ấn Đại-tư-mă, hai vai gánh vác sơn hà, quá nặng nề, không thể chịu thêm được nữa.

Đinh Đại lên tiếng:

– Anh hùng, đệ tử Cửu-chân nghe đây: Đất Cửu-chân ta ở phía sau Lĩnh-Nam. Giặc Hán có xâm lăng, tất đem thủy quân từ biển đánh vào. Sau đó đánh trở lên. Chức lạc vương Cửu-chân, do sư huynh ta gánh vác th́ được. C̣n lại từ Đào vương phi, tức chị ta, cho đến ta và các đệ tử không ai gánh vác nổi. Vơ đạo, vơ công, ḷng son chúng ta có. C̣n bảo chúng ta lĩnh trọng trách lớn đó, thực không nổi. Ta muốn mời một người không ở Cửu-chân vào thay thế sư huynh. Các ngươi nghĩ sao?

Quần hùng nghĩ: Tài hơn, hoặc ngang với Đào vương chỉ có Trưng đế, Trưng vương, Phương-Dung, Đào Kỳ, Vĩnh-Hoa. C̣n ai đâu?

Trần Dương-Đức kính cẩn hỏi:

– Sư thúc, Lĩnh-Nam ta, không biết c̣n ai có tài ngang với sư phụ, mà chưa lĩnh trọng trách ǵ?

Đinh Đại cười:

– Ta nghĩ đến một người: Vơ công đă cao. Tính t́nh hào sảng. Đánh dư trăm trận. Hiểu biết hết t́nh h́nh triều Hán, là bạn của các đại thần nhà Hán. Tài dùng binh, e rằng không đại tướng Hán nào b́ kịp.

Đinh Tĩnh-Nương lắc đầu:

– Bố ơi! Bố muốn nói đại ca Trần Tự-Sơn hả bố? Đại ca không chịu nhận đâu. Đại ca đang ngao du sơn thủy. Bố bắt đại ca trở về sao?

Đinh Đại tát yêu con gái:

– Con lầm rồi! C̣n một người nữa. Chứ bố đâu có muốn mời Trần đại ca.

Đào Kỳ, Phương-Dung đồng kêu lên:

– Đô Dương! Đô đại ca! Đúng, đại ca đă xin Trưng đế tha cho không phải nhận chức tước ǵ. Bây giớ chúng ta dùng đại nghĩa, xin Đô đại ca nhận chức Lạc-vương Cửu-chân.

Đô Dương đang ngồi trên khán đài quan khách với Nguyễn Giao-Chi. Ông nghe Đào Kỳ nói vậy, đứng dậy vẫy tay nói:

– Đào hiền đệ! Đa tạ hiền đệ tín nhiệm ta. Song ta đang muốn được thảnh thơi, nhàn tản một thời gian đă.

Phương-Dung đến bên ông nói:

– Đô đại ca! Đại ca bỏ Lĩnh-Nam sang Trung-nguyên, vào sinh ra tử bao phen cho nhà Hán. Không lẽ bây giờ đại ca không coi Lĩnh-Nam bằng Hán hay sao?

Đô Dương biết Phương-Dung lợi hại không thể tưởng được. Muốn căi với nàng, thực khó khăn. Ông nh́n vợ hỏi ư kiến. Giao-Chi nói:

– Giữa Đào gia với Mai-Động có nhiều ơn nghĩa. Bố em trước đây đứng ra gả sư tỷ Thiều-Hoa cho đại ca Tự-Sơn. Đào lăo bá đứng ra gả em cho anh. Hai nhà như một. Vậy anh thay Đào lăo bá lĩnh trọng trách mới phải đạo.

Đô Dương thuộc đấng đại trượng phu đa t́nh. Ông lưu lạc bên Trung-nguyên bao năm trời. Công danh tới thái thú. Vinh dự tới tước hầu. Tiền rừng bạc biển. Ông không cưới vợ. Thường mơ màng một bóng giai nhân, ôn nhu văn nhă, vơ công cao, có tấm ḷng son với đất nước. Được người như thế, vừa là bạn đồng tâm hiệp lực, vừa là tri kỷ, vừa là người yêu.

Ông gặp Giao-Chi. Giao-Chi c̣n nhiều đức tính hơn ông mơ tưởng. Nàng có nhan sắc mặn mà vào bậc nhất thời bấy giờ. Từ hôm cưới vợ, nhất nhất phu thê thuận ḷng, hợp ư. Đến nằm mơ ông cũng không ngờ ḿnh có người vợ như vậy.

Ông sủng ái Giao-Chi cực kỳ. Trên đời, ông chỉ tuyệt đối nghe lời Trần Tự-Sơn, bây giờ thêm Giao-Chi. Ông tưởng Giao-Chi sẽ chối từ. Ông có cớ đó, thoát ṿng vây của Phương-Dung. Không ngờ Giao-chi với Phương-Dung tri kỷ với nhau từ lâu. Họ yêu chồng, kính chồng, mưu t́m hạnh phúc với chồng... Song có một điều Đô Dương không nghĩ tới: Họ xuất thân gịng dơi trung lương, coi việc nước lớn hơn tính mệnh. V́ vậy Đô Dương mới bị vợ cột chân cứng ngắt. Ông không lấy thế làm buồn, nghĩ trong ḷng: Nếu v́ Giao-Chi mà chết, ta cũng được chết v́ sung sướng. Huống hồ gánh vác việc nước. Ông đứng dậy chắp tay nói lớn:

– Nếu các anh hùng Cửu-chân, đều tín nhiệm. Đô Dương tôi xin tuân lệnh.

Đinh Đại hỏi các anh hùng vùng Cửu-chân:

– Có ai phản đối việc chúng ta suy cử này không?

Quần hùng, đệ tử Cửu-chân đồng loạt hô lớn:

– Tuyệt đối không!

Trưng đế phán:

– Mời Đô đại ca lên đài làm lễ trước bàn thờ Quốc-tổ và trước Linh cữu Đào vương gia.

Đô Dương lên đài, lễ trước bàn thờ Quốc-tổ tám lễ. Ông thề lớn:

– Đệ tử Đô Dương, được anh hùng Cửu-chân suy cử nhận trọng trách lạc vương Cửu-chân. Đệ tử nguyện dùng hết tâm trí, bảo vệ đất nước. Nếu đệ tử sai lời, bị chết dưới muôn ngàn đao, kiếm.

Anh hùng các nơi vỗ tay rung động trời đất.

Trưng đế đến trước linh cữu Đào vương, hành lễ. Tuyên sắc phong:

Long công, thịnh đức,

Chí minh, đại nghĩa,

Cửu-Chân vương.  

Ngài nói với các lộ anh hùng:

– Anh hùng các nơi đâu về đó. Đào tam đệ, Phật-nguyệt, Thánh-Thiên, Hiển-Hiệu phải lên đường trấn nhậm ngay. Chậm một ngày, nguy một ngày. Trẫm muốn cùng tam công, tể tướng đi khắp các nơi, thăm dân cho biết sự t́nh. Cũng để tuyên cáo Lĩnh-Nam đă trở về với người Việt.

Trưng Đế hỏi Tư-không Nguyễn Tam-Trinh, Tể-tướng Phương-Dung:

– Hiện các lạc vương cai trị dân bằng vơ đạo. Ta chưa có luật. V́ vậy trẫm muốn cùng sư thúc và các sư muội thăm khắp nơi, để hiểu biết dân t́nh. Sau đó trở về phiền sư muội soạn ra bộ luật cho Lĩnh-Nam.

Phùng Vĩnh-Hoa tâu:

– Hán có ǵ hay, ta phải học. Hán có ǵ dở, ta phải tránh. Hán có luật, có điển chế triều đ́nh, có lịch nêu rơ chính thống. Ta cũng phải soạn lịch. Chẳng nên dùng lịch Trung-nguyên.

Phương-Dung biết Phùng Vĩnh-Hoa xuất thân phái Sài-sơn, uyên thâm văn minh Lĩnh-Nam. Bà hỏi:

– Vấn đề Lịch-số, em có biết qua. Song chưa tường tận. Xin sư tỷ đừng tiếc công chỉ dạy.

Phùng Vĩnh-Hoa lấy trong bọc ra hai cuốn sách nhỏ, đưa cho Phương-Dung:

– Đây, hai cuốn sách, dạy cách làm lịch, tính thiên văn của Lĩnh-Nam từ hơn ngàn năm trước.

Trưng đế ngạc nhiên:

– Ta chưa từng biết qua lịch Lĩnh-Nam. Xin lắng tai nghe sư muội nói.

Phùng Vĩnh-Hoa tâu:

– Đời Hồng-Bàng, Lĩnh-Nam lập quốc từ năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch). Quốc tổ ra lệnh làm lịch. Ngài tuyên chiếu chỉ: Lịch là kỷ cương của âm, dương, liên hệ giữa người với trời đất. Mỗi đời vua đều có quan Thái-sử-lệnh coi việc chép sử. Thiên-văn-lệnh coi xét về mưa nắng, mùa màng. Lịch-quan-lệnh coi về làm lịch.

Phương-Dung tỏ ư hiểu biết:

– Lịch quan làm lịch. Văn-Lang có lịch riêng từ hồi đó. Đến khi Triệu Đà đánh dân Âu-Lạc, dân Việt dùng lịch Trung-nguyên. Không biết lịch Trung-nguyên với lịch Hồng-Bàng có khác nhau không?

– Đại thể giống nhau. Chi tiết khác nhau. Giống nhau v́ cùng đặt trên học thuyết Âm-dương, Ngũ-hành. Khác nhau v́ ở vào hai vùng khí hậu nóng, lạnh.

GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ

Trở lại nguồn gốc, sử sách Trung-nguyên, Lĩnh-Nam đều ghi. Đời Hồng-Bàng, năm thứ 527 bên Trung-nguyên, niên hiệu vua Nghiêu thứ năm (2353 trước Tây-lịch). Vua Hùng muốn Trung-nguyên biết về văn minh Văn-Lang, truyền sai chép cách làm lịch vào lưng một con rùa cực lớn, đem cống. Lưng con rùa lớn tới ba thước (0,96 mét). Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Qui-lịch.

Điều mà bà Phùng Vĩnh-Hoa tâu lên Trưng-đế là đúng. Sử Việt đă ghi. Trong bộ "Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục" của Quốc-sử quán triều Nguyễn, phần Tiền-biên có ghi chép sự kiện này. Sử Trung-quốc chép tương tự. Sách Thống-chí của Trịnh Tiều (1104-1162) chép đầy đủ. Trịnh Tiều c̣n nhấn mạnh rằng: Đó là nguồn gốc lịch Trung-quốc sau này. Như vậy điều Tư-đồ Lĩnh-Nam Phùng Vĩnh-Hoa tâu lên Trưng đế không phải truyền thuyết nữa, mà là sự kiện lịch sử.  

Phùng Vĩnh-Hoa tiếp:

– Lịch Hồng-Bàng chia ngày làm một trăm khắc. Khắc chia làm một trăm phân. Phân chia làm một trăm giây. Năm dài 365,2425 ngày. Độ dài của mỗi tuần trăng bằng 29,53059 ngày. Khi Pḥ-mă An Tiêm, bị tội, đày ra đảo Hải-nam. Ngài ngồi ngắm nhật, nguyệt chuyển vận, sửa chữa lịch Hồng-Bàng. Hết hạn lưu đày, ngài dâng lịch lên vua Hùng. Được vua khen ngợi, truyền sao phát cho các lạc hầu, dân chúng dùng. Lịch Hồng-Bàng có cơ sở vững chắc tự đó.

GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ

Con số một năm dài 365,2425 ngày, so với con số ngày nay chỉ sai có hai mươi sáu giây. Tuần trăng dài 29,53059 so với ngày nay chỉ sai có 2% giây. Đây là lư thuyết. Chứ trên thực tế, ngày nay người ta cũng dùng con số 29,53059.

An Tiêm là Pḥ-mă của vua Hùng-Vương. Được vua thương yêu, ngài thường nói:

– Ta sở dĩ được thế này do phúc đức tổ tiên để lại. Do trời thương ta.

Vua Hùng nổi giận phán:

– Đă vậy ta đày Pḥ-mă An Tiêm cùng vợ con, tôi tớ ra đảo Hải-nam.

Đảo Hải-nam hồi đó c̣n hoang dă chưa có người ở. Vợ, con, tôi tớ đều lo sợ không biết sẽ sống ra sao.

Pḥ mă phán:

– Trời sinh voi, ắt sinh cỏ.

Bỗng đàn quạ từ một băi xa bay lên kêu quang quác, đánh rơi xuống mấy hạt dưa. Ngài cầm lên coi phán rằng:

– Dưa này quạ ăn được. Tất người ăn được.

Pḥ mă cùng tôi tớ tới băi đất phía tây đảo coi, quả có nhiều dưa mọc đầy trái, truyền cắt dưa ăn, mùi vị ngon ngọt. Từ đấy, cùng vợ con, tộc thuộc trồng trọt sống rất sung túc. Ít lâu sau vua Hùng hối hận. Cho người ra đảo thăm Pḥ-mă An Tiêm. Thấy Pḥ-mă sống sung túc. Sứ về tâu lại, vua truyền cho ngài trở về lục địa. An-Tiêm coi như tổ sư dân vùng đảo Hải-nam. Dưa ngài trồng hồi đó, đặt tên Tây-qua. Kỷ niệm con quạ bay từ phương tây lại. Tên Việt gọi dưa hấu.

Phùng Vĩnh-Hoa tâu tiếp:

– An Tiêm đặt ra dụng cụ tên Trắc thời đồ phân chia giờ, quan sát thiên hà. C̣n bên Trung-nguyên, thời Nghiêu dùng Quy-lịch. Họ cũng sáng chế, thêm thắt vào. Đến đời Xuân-Thu (770-476 trước Tây-lịch) và Chiến-Quốc (476-255 trước Tây-lịch) mỗi nước dùng một thứ lịch khác nhau. Song căn bản vẫn rút từ Qui-lịch. Nhà Tần (255-207 trước Tây-lịch) dùng lịch Chuyên Húc. Đến đời Hán. Niên hiệu Thái-sơ (104 trước Tây-lịch) ban hành lịch Thái Sơ. Lịch Thái Sơ được dùng một trăm tám mươi tám năm. Đến cuối đời Tây-Hán, Lưu Hâm sửa đổi lại một lần nữa. Lịch Quang-Vũ hiện dùng do Lưu Hâm làm.

Trưng Đế mừng lắm hỏi:

– Không ngờ Phùng sư muội lại bác học đến thế. Bây giờ sư muội định dùng lại lịch Hồng-Bàng hay làm lịch mới?

Phùng Vĩnh-Hoa tâu:

– Thời gian bị Hán cai trị. Liệt tổ phái Sài-sơn vẫn tiếp tục nghiên cứu lịch số, chiêm nghiệm Thiên-văn, chia một năm làm hai mươi bốn tiết khác nhau. Bởi mỗi tiết có loại khí khác nhau. Căn cứ vào đó mà đặt tên để dân chúng biết thời tiết, mà làm ruộng, trồng cấy.

Phương-Dung không biết về Lịch-số. Nhưng bà thông minh quán thế. Hỏi:

– Như vậy các tổ Lĩnh-Nam ḿnh căn cứ vào sự chuyển động của mặt trời, đặt ra hai mươi bốn tiết khí. Mỗi tiết khí ứng với một phần hai mươi bốn (1/24) năm. Cứ đến môt khí, khí hậu thay đổi. Người dân biết đó mà lo trồng cấy, chăn nuôi. Thầy thuốc biết mà ước tính bệnh.

Phùng Vĩnh-Hoa gật đầu:

– Đúng thế! Mùa Xuân có các tiết:

      Lập-xuân, Vũ-thủy, Kinh-trập,

      Xuân-phân, Thanh-minh, Cốc-vũ.

Mùa hạ có các tiết:

      Lập-hạ, Tiểu-măn, Mang-chủng ,

      Hạ-chí, Tiểu-thử, Đại-thử.  

Mùa thu có các tiết:

      Lập-thu, Xử-thử, Bạch-lộ,

      Thu-phân, Hàn-lộ, Sương-giáng.  

Mùa đông có các tiết:

      Lập-đông, Tiểu-tuyết, Đại-tuyết,

      Đông-chí, Tiểu-hàn, Đại-hàn.

Mỗi tiết dài hơn mười lăm ngày. Hai tiết dài hơn một tháng.

Trưng Đế suy nghĩ một lúc. Ngài hỏi:

– Ta có một thắc mắc: Lịch Hồng-Bàng, lịch An Tiêm đều căn cứ vào tuần trăng. Mỗi tuần trăng dài 29,53059. Không lẽ mỗi tháng dài hai mươi chín ngày rưỡi?

Phùng Vĩnh-Hoa vỗ tay vào vai ngài. Tay mới đưa đến nửa chừng vội giựt lại. Bà chợt nhớ rằng bây giờ ngài không c̣n là sư tỷ Trưng-Trắc nữa. Mà trở thành một vị hoàng đế kính yêu của hơn mười triệu người. Trưng Đế thấy vậy, càng vui hơn. Ngài phán:

– Sư muội! Chúng ta vẫn giữ t́nh chị em như xưa mà.

Phùng Vĩnh-Hoa chắp tay:

– Đôi khi em quên mất. Đúng như bệ hạ nghĩ. Liệt tổ đặt ra một tháng ba mươi ngày gọi là tháng đủ. Một tháng hai mươi chín ngày, gọi là tháng thiếu. Lịch An Tiêm c̣n gọi ngày không trăng tức mồng 1 là ngày Sóc. Ngày trăng tṛn là ngày Vọng.

Phương-Dung xuất thần, tính toán một lúc. Hỏi:

– Như thế một năm ta có sáu tháng đủ. Sáu tháng thiếu. Cộng ba trăm năm mươi bốn ngày. Trong khi đó một năm dài 365,2425 ngày. Vậy một năm dư tới 11,2425 ngày. Th́ những ngày đó đi đâu?

Phùng Vĩnh-Hoa gật đầu:

– Có, lịch Hồng-Bàng đă định điều đó. An Tiêm t́m ra rằng cứ mười chín năm, mặt trăng, mặt trời, lại giao hội nhau tại đúng thời điểm cũ. Khoảng cách mười chín năm đó, An Tiêm gọi là một Chương. Một chương có hai trăm ba mươi lăm tháng (235), gồm một trăm mười (110) thiếu, trăm hai mươi lăm (125) tháng đủ. Cộng sáu ngàn chín trăm bốn chục ngày (6940). Những năm thứ ba, thứ sáu, thứ chín, thứ mười một, thứ mười bốn, thứ mười bảy, và thứ mười chín là năm nhuận tức có mười ba tháng.

Trưng Đế hiểu rơ. Ngài phán:

– Phiền sư muội làm một cuốn lịch, đặt tên Lĩnh-Nam đại lịch, khởi từ năm tới. V́ bây giờ đă gần hết năm rồi, cố hoàn tất trước tháng chín, cho sao làm nhiều bản. Ta sẽ làm lễ Tiến-lịch trước bàn thờ Quốc-tổ, rồi gửi tới các Lạc hầu.

Phùng Vĩnh-Hoa hỏi:

– Theo phương pháp chép sử Khổng-Tử, năm tới, mới được kể là niên hiệu thứ nhất của sư tỷ. Năm vừa qua dù sư tỷ đă lên ngôi vua từ tháng bảy, vẫn chưa được gọi là năm thứ nhất. Chẳng hay sư tỷ có sửa đổi không, hay vẫn theo Khổng-Tử.

Trưng Đế phán:

– Khổng-Tử có lư. Ta lên làm vua từ tháng bảy, năm nay, là năm Kỷ-Hợi (39). Có nghĩa là bảy tháng đầu chưa phải của ta. Năm tới là năm Canh-Tư (40), mới được kể. Sư muội cứ ghi trên các văn kiện năm nay vẫn thuộc Âu-Lạc. Từ ngày 1 tháng giêng năm tới hăy ghi niên hiệu ta: Trưng Đế nguyên niên.

Phùng Vĩnh-Hoa tuân chỉ. Bà cho lập ṭa Thiên-văn-giám. Truyền cứ đầu mỗi giờ đánh ba tiếng trống, ba tiếng chiêng, đổi cờ một lần. Giờ tư cờ đen. Giờ sửu cờ vàng. Giờ dần cờ xanh. Giờ măo cờ tím. Giờ th́n cờ vàng. Giờ tỵ cờ đỏ. Giờ ngọ cờ hồng. Giờ mùi cờ vàng. Giờ thân cờ ngà. Giờ tuất cờ vàng. Truyền mỗi huyện mỗi trang đều làm theo.

Vua tôi thời Lĩnh-Nam thường không câu nệ gọi nhau bằng chức tước khách sáo, mà sống như chị em. Trưng Đế theo đề nghị của Phương-Dung ban chiếu chỉ xuống các lạc hầu. Ai có ư kiến ǵ phục hưng đất nước, được gửi biểu tấu về triều đ́nh. Dân chúng có ư kiến, được đạo đạt lên lạc hầu, lạc công, lạc vương hoặc triều đ́nh.

T́m lại nền nội trị, cứ theo các cuốn phổ ghi chú tiểu truyện của các anh hùng Lĩnh-Nam thời đó. Dân Việt được hưởng cảnh yên vui chưa từng có, hơn cả thời Hồng-Bàng, Âu-Lạc. Vụ lúa mùa tháng mười năm Kỷ Hợi (39 sau Tây lịch). Khắp Lĩnh-Nam trúng mùa.

Phải hơn một tháng phủ Đại-tư-đồ mới soạn xong lịch. Công chúa Nguyệt-đức Phùng Vĩnh-Hoa ra lệnh khắc bản in, rồi tŕnh lên vua Trưng. Ngài truyền triệu tập tất cả các vị lạc vương, đại tướng quân các đạo, cùng tam công, tể tướng, lục vị thượng thư, thiết đại triều duyệt xét, trước khi tế Quốc-tổ, Quốc-mẫu, ban hành vào đầu năm. Phải mất hơn tuần trăng, anh hùng các nơi mới tề tựu đầy đủ về thủ đô Mê-Linh.

Buổi họp khai mạc tại điện Kinh-dương. Cử tọa theo thứ bậc ngồi trước bán thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vua Trưng đứng dậy tóm lược ư nghĩa việc ban hành lịch để nêu rơ chính thống dân tộc. Lịch để cho nhà nông biết thời tiết mà trồng trọt. Thầy thuốc biết các khí thay đổi, hầu trị bệnh. Ngài nhấn mạnh:

– Ngoài việc ban hành lịch, buổi hội cần có ư kiến các vùng để soạn thảo bộ luật Lĩnh-Nam. Chúng ta, nhân v́ cái nhục vong quốc, cùng nhau đứng dậy, đ̣i lại đất tổ. Đ̣i lại được rồi, chúng ta phải giữ ǵn. Giữ ǵn không đủ. Chúng ta cần có bộ luật, là cơ chế tổ chức nền nội trị sao đem lại ấm no, hạnh phúc cho dân. Chứ dành lại được đất, mà khiến cho trăm họ đói khổ, điêu linh, th́ chúng ta chẳng khác ǵ bọn Hán cướp nước. Cuộc khởi binh vừa qua, là một sự lấy bạo tàn thay bạo tàn.

Đầu tiên nói về việc ban hành lịch.

Công chúa Phùng Vĩnh-Hoa thuyết giảng về diễn tiến khoa lịch số từ thời Hồng-Bàng đến bây giờ, cùng chi tiết việc soạn lịch. Lục Mạnh-Tân được phong chức Thượng-tân khanh sĩ. Thượng nghĩa là ở trên hết. Tân là khách. Thượng-tân khanh sĩ tức vị khách quư, cố vấn triều đ́nh. Ông hỏi:

– Bên Trung-quốc, mỗi vua đều đặt niên hiệu riêng. Không biết Hoàng đế bệ hạ có đặt niên hiệu không?

Vua Trưng phán:

– Không! Trẫm không dùng niên hiệu riêng.

Đại tư-không Nguyễn Tam-Trinh giải thích:

– Hoàng đế bệ hạ đă cùng triều đ́nh bàn định kỹ lưỡng về việc này. Vua Lĩnh-Nam do quần hùng suy cử chứ không phải như Trung-quốc gọi vua là thiên tử tức con của trời.

Ông nhấn mạnh về vua ở Trung-quốc:

– Vua được trời ủy nhiệm cai trị dân gian. Dân chúng phải tôn phục. Tuy vậy không phải cái ư đó lúc nào cũng tồn tại. Như cách đây hơn hai trăm năm năm. Tần Thủy-Hoàng vô đạo. Anh hùng các nơi nổi dậy như ong. Nhân sĩ Trung-quốc coi đất nước, dân chúng như con hươu. Tần Thủy-Hoàng đánh mất. Anh hùng tranh nhau ngôi vua, ví như đuổi hươu. Bởi vậy mới có câu: Tần thất kỳ chính, quần hùng trùng lộc nghĩa rằng: nhà Tần mất chính trị. Anh hùng thi nhau đuổi hươu. Cuối cùng các anh hùng đều bại, chỉ có Lưu Bang với Hạng Vũ. Lưu Bang thắng, tức bắt được hươu, chứ chẳng phải con trời, con đất ǵ cả.

Vua Trưng phán với các anh hùng:

– Thời vua Hùng, quốc hiệu là Văn-Lang. Đến vua An-Dương, quốc hiệu là Âu-Lạc. Nay chúng ta đă dùng quốc hiệu Lĩnh-Nam. V́ vậy khi làm lịch, công chúa Nguyệt-Đức mới gọi năm tới là Lĩnh-Nam nguyên niên. C̣n trẫm th́ cứ gọi hoàng đế Lĩnh-Nam đệ nhất. Sáu năm sau quần hùng suy cử người kế tiếp. Vị đó sẽ là hoàng đế Lĩnh-Nam đệ nhị.

Ngài quay lại nói với đại tư không Nguyễn Tam-Trinh:

– Trong các vị đây, chú là người nghe nhiều, hiểu rộng. Văn tài lại lỗi lạc. Đúng là đức bác thánh văn. Vậy xin chú đừng tiếc công nói cho trẫm với các vị hiện diện hôm nay về nguồn gốc tư tưởng con trời của Trung-quốc.

Nguyễn Tam-Trinh cảm động nh́n vua Trưng, muốn rơi nước mắt. Nguyên từ khi lên ngôi vua. Đối với người không thân thiết, ngài thường gọi bằng chức tước. Thân hơn chút nữa, ngài dùng lối xưng hô trong vơ đạo. C̣n đối với người quá thân thiết, ngài thường dùng những danh từ b́nh dân, như trong gia đ́nh. Hôm nay, trước mặt quần thần. Ngài gọi ông là chú, hỏi sao ông không cảm động.

Ông đứng dậy, nói lớn:

– Trung-quốc có Tứ thư và Ngũ kinh. Ngũ kinh gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc và Xuân-Thu. Quan niệm của họ th́ kinh là những khuôn vàng thước ngọc, không thể sửa đổi. Trong Kinh-thư có thiên Vũ-cống, bày tỏ đầy đủ quan niệm về đất nước, vua chúa.

Ông móc trong túi ra bộ Kinh-Thư rồi tiếp:

– Kinh-thư thiên Vũ-cống gọi thế giới là phía dưới của trời, tức thiên hạ. Thời cổ, lănh thổ Trung-quốc không bằng một phần trăm ngày nay. Nhưng v́ các văn nhân không đi ra ngoài, tưởng đâu thế giới chỉ có một ḿnh Trung-quốc. V́ vậy Trung-quốc là thiên hạ. Thiên hạ là Trung-quốc. Thiên hạ ở giữa, bốn phía là biển. Cho nên Trung-quốc c̣n gọi là hải nội. Nước khác là hải ngoại.

B́nh-ngô đại tướng quân, công chúa Thánh-Thiên, hiện thống lĩnh binh mă vùng Nam-hải xen vào:

– Lúc đầu, người Hoa họ dùng danh xưng hải nội, hải ngoại để phân biệt Trung-quốc với nước khác. Danh xưng đó ngày nay người Việt ḿnh cũng dùng. Trong nước Lĩnh-Nam ḿnh th́ gọi là hải nội khi sang Trung-quốc th́ gọi là ra hải ngoại.

Nguyễn Tam-Trinh tiếp:

– Vẫn bộ Kinh-Thư, thiên Vũ-Cống chia thiên hạ làm chín châu. Người Trung-quốc dùng khoảng cách chia xă hội thành năm cơi gọi là Ngũ phục. Mỗi cơi rộng năm trăm dặm. Đông, tây, nam, bắc, cách nhau năm trăm dặm. Năm cơi có tên gọi là Điện-phục, Hầu-phục, Tuy-phục, Yêu-phục, Hoang-phục.

Trấn-viễn đại tướng quân, Tây-vu công chúa Hồ Đề ngắt lời Nguyễn Tam-Trinh:

– Thưa bác, như vậy người Hoa họ tự coi ḿnh là trung tâm thiên hạ. Cho nên nước họ mới xưng là Trung-quốc tức nước ở chính giữa. C̣n bốn bên đông, tây, nam, bắc, đều có Điện-phục. Nghĩa là có tới bốn cơi Điện-phục. Cơi Điện-phục ở ngoài kinh thành nhà vua năm trăm dặm.

– Đúng thế! Ngoài Điện-phục là Hầu-phục. Cơi Hầu ở ngoài cơi Điện năm trăm dặm. Trong năm trăm dặm cơi Hầu, th́ khoảng cách trăm dặm gần phong thái ấp cho quan khanh đại phu. Tiếp theo hai trăm dặm nữa phong cho các vương có tước Nam. C̣n lại hai trăm dặm phong cho chư hầu.

Hổ-oai đại tướng quân, thống lĩnh đạo binh Nhật-nam Trần Quế-Hoa bật cười:

– Với lối phân chia lẩm cẩm của một văn gia thời thượng cổ bên Trung-quốc, không ngờ ngày nay lại thành kinh. Người Hán triệu bộ óc như một, đều coi là không thể sửa đổi.

Nguyễn Tam-Trinh tiếp:

– Công chúa Nghi-Ḥa nói thực phải. Tất cả những ǵ là thiên hạ, thiên tử... đều do mấy văn gia nghĩ, rồi đặt ra cả... Tôi xin tiếp: kế đó là cơi Tuy. Cơi Tuy ở ngoài cơi Hầu năm trăm dặm. Trong ba trăm dặm gần là nơi truyền bá văn chương, giáo hóa quần chúng. C̣n hai trăm dặm, để hưng thịnh vơ bị bảo vệ quốc gia.

Uy-viễn đại tướng quân Vũ Trinh-Thục hỏi:

– Thưa sư bá, nguồn gốc trọng văn khinh vơ của Nho gia phát xuất từ sự phân chia này, có phải không?

Nguyễn Tam-Trinh đưa mắt nh́n Thượng-tân khanh sĩ Lục Mạnh-Tân. Ư muốn để ông trả lời. Lục Mạnh-Tân hướng vào Vũ Trinh-Thục:

– Thưa công-chúa Bát-Nàn, đúng thế. Các vua thời Đông-chu, Chiến-quốc v́ nhu cầu chiến tranh, đều trọng vơ hơn văn. Đến đời Hán. Sau khi thắng Hạng Vũ, vua Cao-Tổ trở lại trọng văn. V́ vơ chỉ để dẹp giặc, khi giặc yên, cần dùng văn, hầu tổ chức cai trị.

Nguyễn Tam-Trinh mỉm cười tỏ ư cám ơn Lục Mạnh-Tân rồi tiếp:

– Tiếp đến là cơi Yêu. Cơi Yêu ngoài cơi Tuy năm trăm dặm. Trong ba trăm dặm gần cho dân mọi rợ phương đông ở. C̣n hai trăm dặm kế tiếp cho người có tội bị đầy.

Đại đô-đốc Lĩnh-nam Trần Quốc bật cười:

– Thưa sư bá! Như vậy th́ từ kinh đô của Hoàng-đế đến quê hương của đức thánh Khổng cách nhau gần hai ngh́n dặm. Vậy Khổng-Tử cũng là mọi rợ sao?

Nguyễn Tam-Trinh lại liếc nh́n Lục Mạnh-Tân. Lục Mạnh-Tân cười:

– Thưa công-chúa Gia-Hưng đây là Kinh-thư nói. Kinh-thư đâu có hoàn toàn đúng. Vả lại chính Khổng-Tử c̣n tự xưng ḿnh ở đất Đông-di. Tức mọi rợ phương đông.

Nguyễn Tam-Trinh cũng mỉm cười:

– Cơi cuối cùng là cơi Hoang. Cơi Hoang ngoài cơi Yêu năm trăm dặm. Trong ba trăm dặm gần cho mọi rợ phương nam ở. C̣n hai trăm dặm cạnh đấy dùng để đầy những người mắc tội nặng. Đấy, tất cả năm cơi theo lối phân chia bệnh hoạn của văn gia thời khởi thủy. Kinh-Thư được coi là kinh, xâm nhập sâu xa vào tư tưởng người Hán. Cũng ví như chúng ta, Quốc-tổ có tên là Lạc-Long-Quân. Phải hiểu chữ long ở đây có ư nghĩa tượng trưng. Chứ đâu có phải Quốc-tổ là loài rồng?

Thuần-Chính hoàng thái-hậu Hoàng Thiều-Hoa liếc nh́n Bắc-b́nh vương Đào Kỳ rồi hỏi Nguyễn Tam-Trinh:

– Thưa bác. Cách đây hơn mười năm. Khi Đào trang bị đánh tan nát. Cháu cùng tiểu sư đệ theo sư bá Phạm Bách đi từ Cửu-chân ra Hoa-lư. Dọc đường sư bá dẫn cháu vào hang Địch-lộng, cùng viếng đền thờ Quốc-tổ. Cháu thấy tượng Quốc-tổ, đầu giống đầu rồng. C̣n Quốc-mẫu th́ giống chim âu. Lối tượng trưng tiên, rồng này như thế nào?

Nguyễn Tam-Trinh chỉ công chúa Vĩnh-Huy, lĩnh chức Lại-bộ thượng thư nói:

– Tâu thái-hậu. Trong phái Sài-sơn của chúng tôi có tám anh chị em. Được người Việt gọi là Tám vị thái bảo. Mỗi người một sở trường. Đại sư tỷ Nam-hải nữ hiệp chuyên về đạo đức. Trong cuộc chiến vừa qua tuẫn quốc tại Phiên-ngung. Nam-thành vương chuyên về chính trị đă tuẫn quốc tại Kư-hợp. C̣n sư muội Vĩnh-Huy chuyên về triết lư, lịch sử. Xin sư muội trả lời dùm:

Công-chúa Vĩnh-Huy nghiêm trang nói:

– Tâu Thái-hậu. Nói về nguồn gốc dân Việt ḿnh, cần phải trở về thời vua Hùng. Thế giới chúng ta ở được gọi là vũ trụ. Vũ trụ phân âm dương. Âm dương là đạo tự nhiên của trời đất. Có ngày ắt có đêm. Có nước ắt có lửa. Có nam ắt có nữ. Mỗi dân tộc t́m lấy một biểu tượng. Dân Lào lấy biểu tượng là con voi. Dân Chiêm lấy biểu tượng là con cọp. Dân Hán lấy biểu tượng là con rồng. Tất cả chỉ có một. C̣n dân Việt ḿnh lại có hai, rồng tượng trưng cho cha, cho trời, cho nam, cho dương. Tiên Âu-Cơ tượng trưng cho mẹ, cho đất, cho nữ, cho âm. Âm-dương là lẽ biến hóa của trời đất. Cũng như truyện bánh chưng, bánh dầy vậy.

Vua Trưng hỏi Đại tư-đồ Phùng Vĩnh-Hoa:

– Này Vĩnh-Hoa! Thế nguồn gốc tư tưởng nói về vua là con trời, chép ở sách nào bên Trung-quốc?

Công chúa Nguyệt-Đức tâu:

– Tâu bệ hạ, nguồn gốc tư tưởng đó cũng phát xuất từ Kinh-thư, thiên Thái-thệ nói rằng:

      Trời sinh ra dân,
      Đặt ra vua, ra thầy,
      Đều để giúp thượng đế,
      Vỗ về dân bốn phương.  

Trong sách Tả-truyện. Tả Khâu-Minh cũng viết Trời làm chủ thiên hạ. Vua nối trời mà cai trị. Kẻ chịu mệnh trời thống trị thiên hạ là Thiên tử. Sách Mạnh-tử thiên Ly-lâu nói: Thiên hạ là quốc gia. Gốc của thiên hạ ở quốc. Gốc của quốc ở gia.

Lục Mạnh-Tân tiếp lời công chúa Nguyệt-Đức:

– Đến thời Chiến-quốc, th́ người Hán không c̣n tin vào Kinh-thư mà cho rằng thiên hạ là Trung-Quốc nữa. Trong bộ Sử-kư của Tư-mă Thiên, quyển thứ bảy mươi bốn Mạnh-tử, Tuân-Khanh liệt truyện, chép Trâu Diên đă nhận xét rằng Cái mà người ta gọi là Trung-quốc chỉ chiếm một phần tám mươi mốt của thiên hạ. Tuy vậy bọn vua chúa vẫn cứ ôm lấy Kinh-thư để bảo vệ ngôi vua cho gịng họ ḿnh. Như thời Tây-Hán, các đời Tuyên-đế, Thành-đế, B́nh-đế thực là con chồn, con cáo ngồi trên đầu trăm họ. V́ vậy, hôm nay các vị anh hùng Lĩnh-Nam tề tựu. Cần soạn lấy bộ luật sao đem lại hạnh phúc cho dân.

Vua Trưng hướng Lục Mạnh-Tân xá một xá:

– Đa tạ Lục tiên sinh. Trẫm cũng đang nghĩ thế. Vua không phải để ngồi trên đầu trên cổ trăm họ. Vua phải là người v́ trăm họ, đứng ra mưu tạo hạnh phúc. Ư nghĩ, việc làm của vua không phải lúc nào cũng hay, cũng đúng. Dường như Mạnh-Tử có nói Dân mới quư, sau đến xă tắc. Vua th́ coi nhẹ thôi.

Lục Mạnh-Tân nhắc lại nguyên câu văn:

– Dân vi quư, xă tắc thứ chi. Quân vi khinh.

Bắc-b́nh vương Đào Kỳ bàn:

– Dĩ nhiên luật Lĩnh-Nam phải lấy căn bản từ luật vua Hùng vua An-Dương. Song nếu thấy Trung-nguyên có ǵ hay, ta cũng nên thu thái. Họ có ǵ dở, ta cũng phải tránh. Bây giờ hăy bàn thêm về những ǵ dở của Trung-quốc đă.

Nói đến đó Vương liếc nh́n thầy là Lục Mạnh-Tân. Hai thầy tṛ cùng mỉm cười, tỏ ư tương thông. Nguyễn Tam-Trinh đứng lên thuyết tŕnh tiếp:

– Tôi xin trở lại với Cửu châu và ngũ phục. Trong năm cơi trên, th́ cơi Điện là vùng bao quanh trung tâm Thiên hạ. Phía trong cơi Điện là Giao. Trong Giao một trăm dặm là Quốc. Trong Quốc có thành gọi là Đô. Đó là nơi vua ở. V́ vậy họ mới xưng là Trung-quốc. Tức nước ở giữa thiên hạ. Ngày nay chúng ta có danh từ Trung-quốc, Trung-nguyên, Trung-hoa. C̣n danh từ Hoa hạ có nghĩa là Trung tâm của thiên hạ, đẹp đẽ nhất. Tức chỉ văn minh Trung-quốc. Những người Hán chịu ảnh hưởng sách vở cổ, nêu ra lư thuyết Nội Hoa-hạ ngoại Di-địch nghĩa rằng trong là Trung-quốc. Ngoài Trung-quốc đều là Man-di, mọi rợ.

Ông nh́n Lục Mạnh-Tân:

– Xin Lục tiên sinh giải thích rơ hơn về danh xưng Hoa-hạ. Chữ Hoa ở đâu mà ra?

Lục Mạnh-Tân đứng dậy đáp:

– Thời cổ tộc của Trung-quốc cư ngụ ở vùng lưu vực sông Hoàng-hà. Xung quanh là các sắc dân kém văn minh. V́ họ tự hào có lễ, nghĩa, văn minh hơn các tộc khác. Họ xưng nước là Hoa-hạ. Họ nói rằng:

      Miện phục thái chương viết hoa,
      Đại quốc viết hạ .

Nghĩa là: Áo mũ đẹp đẽ viết Hoa. Nước lớn viết Hạ.  

Khổng-Tử nói Di bất loạn Hoa Nghĩa là các dân tộc Man-di tức những người ở cơi Yêu nói trên, không được xâm phạm đất văn minh tức Hoa-hạ. Bọn người hủ lậu nhân đó gọi các tộc xung quanh bằng danh từ xấu như Di, Địch, Khuyển, Nhung, Man, Mạch v.v. Cứ như chữ viết, Man là loại sâu bọ. Địch là loại chó. Ngay trong bộ Kinh-lễ đă định hẵn danh xưng cho từng vùng. Ở giữa là Hoa-hạ. Xung quanh đều là Di-Địch cả. Thiên Vương chế nói:

– Đông phương viết Di. Nghĩa rằng: Đông phương gọi là Di.

– Tây phương viết Nhung. Nghĩa rằng: Tây phương gọi là Nhung.

– Nam phương viết Man. Nghĩa rằng: Nam phương gọi là Man.

– Bắc phương viết Địch . Nghĩa rằng: Bắc phương gọi là Địch.

Gịng giống Bách-Việt ở phương Nam, bị họ gọi là Nam-man. Sự thực Trung-quốc khởi từ châu Ung, Lương, đông-nam là Hoa-âm, đông-bắc là Hoa-dương, tới Hoa-sơn là giới hạn. V́ vậy tên nước lấy chữ Hoa. Sau v́ có văn minh, họ chiếm dần các đất xung quanh, rồi mới có danh từ chín châu như trong Kinh-thư. Hoa là tên nước, không phải tên chủng tộc. Tên Hạ thực do v́ sông Hạ-thủy mà có, vốn gốc ở Ung-lương. Do tên nước Hạ-thủy lấy làm tên tộc. Không phải danh hiệu quốc gia. Đến đời Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán ở đất Hán-trung. Đối với Hạ-thủy th́ cùng đất đối với Hoa-dương th́ đồng châu. V́ vậy mới có tên là Hoa-hạ.

Triều đ́nh Lĩnh-Nam gồm những người văn mô vũ lược. Dù văn minh Trung-quốc, Lĩnh-Nam, họ đều thông hiểu. Song v́ mỗi người xuất thân một phái, có cái học khác nhau. V́ vậy họ chỉ đồng tâm về việc phục quốc, mà không đồng kiến thức về Trung-quốc, Lĩnh-Nam. Trước đây, v́ Nhâm Diên, Tích Quang chủ tâm đồng hóa đất Lĩnh-Nam với Trung-quốc bằng văn hóa. V́ vậy các anh hùng thấy văn hóa Trung-quốc sinh thù hận. Bây giờ họ mới hiểu, tư tưởng Trung-quốc phát xuất từ những văn gia cổ thời. V́ không đi xa quá vùng cư trụ, nên các văn gia mới viết những điều hủ lậu. Rồi bọn vua quan, muốn duy tŕ quyền hành, đă ôm lấy những điều đó, coi là kinh.

Vua Trưng hướng vào Đại tư đồ Phùng Vĩnh-Hoa:

– Công-chúa Nguyệt-Đức. Bây giờ em hăy tŕnh bày về luật pháp dưới đời vua Hùng như thế nào?

Phùng Vĩnh-Hoa kính cẩn tâu:

– Trước hết nguồn gốc của người Việt chúng ta. Đầu tiên triều đại Phục-Hy rồi tới Thần-Nông. Hai vị đều là Quốc-tổ của Trung-quốc lẫn Lĩnh-Nam. Đến đời vua Đế-Minh, cháu ba đời vua Thần-Nông, đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng tiên, sinh hạ Thái tử Lộc-Tục. Ngài lập đàn tế cáo trời đất, rồi phong con trưởng làm vua phương Bắc tức vua Đế-Nghi (2889 trước Tây-lịch), Lộc-Tục làm vua phương nam tức vua Kinh-Dương (2879 trước Tây-lịch). Vậy vua Kinh-Dương lên làm vua lúc mười tuổi. Sau này đổi hiệu là Lục-Dương vương. Vua Kinh-Dương, kết hôn với con gái vua Động-Đ́nh, sinh ra thái tử Sùng-Lăm. Thái tử Sùng-Lăm lấy công chúa Âu-Cơ, con vua Đế-Lai sinh ra trăm con.

Trấn-viễn đại tướng quân Hồ Đề hỏi:

– Này Nguyệt-Đức. Chị nghĩ dầu là thời cổ đi chăng nữa, làm sao Quốc-mẫu sinh ra được trăm con? Không lẽ mỗi năm sinh mười người? Không lẽ Quốc-mẫu đẻ như gà?

Câu hỏi của Hồ Đề làm mọi người cười ồ lên.

Phùng Vĩnh-Hoa mỉm cười:

– Chị hỏi vậy thực phải. Theo luật Lĩnh-Nam hồi đó th́, một người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ. Con cái sinh ra đều gọi người vợ cả là mẹ, c̣n gọi mẹ đẻ ra ḿnh là d́, cô, đôi khi bằng chị. Quốc-tổ có chính cung hoàng hậu Âu-Cơ, nhiều phi tần. Ngài có trăm con. Sử không ghi rơ Quốc-mẫu Âu-Cơ sinh ra bao nhiêu người.

Giao-chỉ vương Trưng Nhị hỏi:

– Sử Lĩnh-Nam khởi chép từ Quốc-tổ Lạc-Long-Quân, Quốc-mẫu Âu-Cơ. Tại sao không chép từ thời Phục-Hy. Hay từ khi lập quốc là vua Kinh-Dương là Quốc-tổ? Em cần giải thích rơ ràng hơn.

Công chúa Phùng Vĩnh-Hoa trịnh trọng bưng ra chiếc hộp bọc gấm. Bà để xuống, mở nắp. Trong hộp có một trăm cái thẻ bằng vàng. Trên các thẻ khắc chữ chằng chịt. Bà nói:

– Sử Lĩnh-Nam chép thời kỳ lập quốc khởi từ Quốc-tổ Lạc-Long-Quân, Quốc-mẫu Âu-Cơ. V́ dù vua Kinh-Dương lên làm vua, tuyên bố quốc hiệu. Song điển chế, luật pháp vẫn giữ y nguyên của triều đại Thần-Nông phương Bắc. Khi Quốc-tổ Lạc-Long-Quân c̣n là thái tử Sùng-Lăm. Ngài chu du khắp đất nước. Bắc tới hồ Động-đ́nh, qua Nam-hải, đến Nhật-nam, sưu tầm phong hóa, tục lệ của từng vùng. Sau khi lên ngôi vua, ngài mới nhân đó ban hành bộ luật mang tên Nam-Thiên bách tộc đại luật. Thường gọi tắt là Nam-luật. Tại sao lại một trăm tộc? V́ kể từ bắc xuống nam. Từ đông sang tây, đất Lĩnh-Nam có trăm bộ tộc. Mỗi bộ tộc có luật lệ, phong tục khác nhau. Ngài lại có trăm con, phong mỗi con làm vua một bộ tộc. Cho nên chúng ta có danh xưng Bách-Việt. Mỗi bộ tộc có tên khác nhau. Dân chúng trong vùng đó, dùng tên bộ tộc làm họ. Nên chúng ta có trăm họ. Như tôi họ Phùng, v́ tổ tiên ở đất Phùng.

Bà ngưng một lát cho cử tọa theo kịp rồi tiếp:

– Sử gia Lĩnh-Nam cho rằng thời Kinh-Dương chưa có luật lệ, điển chế. V́ vậy chưa thể coi là một quốc gia hoàn toàn. Đến Lạc-Long-Quân, có luật lệ, điển chế, triều nghi, mới coi là một nước. V́ vậy sử gia Lĩnh-Nam coi Lạc-Long-Quân, Âu-Cơ là hai vị tổ dựng nước.

Lục Mạnh-Tân cầm một thẻ vàng trong bộ Nam-luật lên coi, rồi lắc đầu:

– A! Chữ Khoa-đẩu của Lĩnh-Nam. Tôi không học, thành ra không đọc được. Không biết chữ Khoa-đẩu có tự bao giờ?

Nguyễn Tam-Trinh nói:

– Có từ thời Lạc-Long-Quân. Chính ngài chế ra chữ Khoa-đẩu. Tất cả người Việt đều học chữ này. Thời gian Triệu Đà cai trị, cho đến Nhâm Diên, Tích Quang đều cấm không cho học. Nhưng các gia, các phái vẫn dạy con em. V́ nếu người Việt không biết chữ Khoa-đẩu coi như văn minh gần ba ngh́n năm của Lĩnh-Nam mất hết. Kinh điển, thư tịch, luật lệ, điển chế cùng tư tưởng, văn học không ai đọc được nữa, đất nước sẽ trở thành man mọi.

Lục Mạnh-Tân hỏi:

– Chữ Khoa-đẩu với chữ Hán khác nhau thế nào?

Nguyễn Tam-Trinh đáp:

– Chữ Hán viết theo lối tượng h́nh. Như chữ mộc th́ giống như một cây, có cành, có rễ v.v. thành ra học rất khó khăn. Phải mất từ ba tới năm năm mới đọc được sách. C̣n chữ Khoa-đẩu tượng thanh. Chỉ cần học ba tháng là đọc thông thạo ngay.

 GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ :

Văn tự Khoa-đẩu mà Nguyễn Tam-Trinh nói, đối với chúng ta hoàn toàn xa lạ. Song thời Lĩnh-Nam, vẫn c̣n thịnh hành. Triệu Đà đánh Âu-Lạc, muốn đồng hóa dân Việt thành dân Hán. Y đă cấm học chữ Khoa-đẩu, cưỡng bách dùng Hán-văn trong công văn, thư tín.

Song phép vua, thua lệ làng. Người Việt vẫn lén lút dạy con cháu. Xét các cuộc khai quật từ Quảng-nam, Thanh-hóa, đến Ḥa-b́nh, Vân-nam, Trường-sa, th́ văn minh Bách-Việt rực rỡ như Trung-nguyên. Nào kinh, nào triết, nào văn, nào sử, như trăm hoa đua nở vào thời các vua Hùng. Đến đời vua An-Dương càng rực rỡ thêm.

Thế nhưng Triệu Đà đă thu tất cả thư tịch cổ đốt đi, cùng với lệnh cấm học văn tự Khoa-đẩu. Triệu Đà bị Hán diệt. Các thái-thú đời Hán càng tiếp tục đàn áp bằng văn hóa. Một mặt đem văn minh Trung-quốc bắt dân Việt học theo. Đem chữ Hán, sách Hán cưỡng bách học.

Sau khi vua Trưng tuẫn quốc. Các quan lại người Hán bắt dân chúng lập đền thờ Nhâm Diên, Tích Quang. Mồng một, ngày rằm bắt đến đền thờ lễ bái. Lại c̣n viết sách nói rằng trước đó dân Việt vốn mọi rợ, chỉ biết lễ nghĩa từ khi có Nhâm Diên, Tích Quang sang. Các sử gia vô trách nhiệm sau này, cứ theo đó thuật lại. Chỉ độc giả Anh hùng Lĩnh-Nam,Cẩm-Khê di hận mới biết rơ mà thôi.

Hơn một thế kỷ trước, học giả Trương Vĩnh-Kư đă viết như sau:

Những chữ dân ta dùng thời đó là những loại chữ ghi âm, mà hiện nay c̣n di tích trên nhiều bản ghi khác. Trong số đó có một tấm bia đá dựng trên núi Đá-bia. Sau khi chiếm nước ta. Một trong những công việc đầu tiên của viên tướng Trung-quốc là bắt buộc dùng chữ Hán trong công văn chính thức, cũng áp dụng những biện pháp nghiêm khắc để ngăn cấm thứ chữ ghi âm mà dân ta vẫn dùng trong thời kỳ ấy. Do đó chữ Hán hiện nay dùng trong nước vốn từ người Hán dùng sức mạnh cưỡng bắt dân ta phải theo. 

(P.J.B Trương-vĩnh-Kư, trong bộ Abrégé de grammaire annamite do Saigon imprimerie Impériale in năm 1867 trang 7-8).

Vĩnh-Hoa tiếp:

– Bộ Nam-thiên bách tộc đại luật áp dụng trong suốt từ năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây lịch) đến năm Quư-Măo (258 trước Tây lịch), trải hai ngàn sáu trăm hai mươi hai năm. Khi vua An-Dương đánh vua Hùng lập nước Âu-Lạc, ngài vẫn cho dùng bộ Nam-luật. Bộ Nam-luật áp dụng đến năm Quư-Tỵ (208 trước Tây-lịch) tức thêm năm mươi năm nữa. Cộng lại hai ngàn sáu trăm bẩy mươi hai năm (2672). Khi Triệu Đà đánh Âu-Lạc. Y xuất thân là chức quan của Tần Thủy-Hoàng, v́ vậy y cho áp dụng luật đời Tần bên Trung-quốc. Luật Trung-quốc th́ tôi không rành cho lắm.

Triều đ́nh cùng đưa mắt nh́n Lục Mạnh-Tân. Ông cũng lắc đầu. Chỉ có Hoàng Thiều-Hoa mỉm cười:

– Mấy năm nay, tôi từng đến Lạc-dương vấn an Hàn thái-hậu. Nhân nhàn rỗi, tôi có nghiên cứu về luật Trung-quốc. Có thể nói tất cả luật lệ, điển chương Trung-quốc đều để ở điện Gia-đức. Chỉ có hoàng đế, thái tử, công chúa cùng tam công, tể tướng, thượng thư được đọc mà thôi. Tôi phải nhờ Hàn thái-hậu với Chu Tường-Qui mượn cho đọc. Nhân đó tôi cho sao chép đầy đủ.

Bà lấy trong bọc ra mấy bộ sách, để trước mặt:

– Trung-quốc có luật cùng thời với Lĩnh-Nam. Tức luật Thần-Nông. Đến đời Hoàng Đế (2550 trước Tây-lịch) cũng từng ban hành luật. Đời Hạ (2140-1711 trước Tây-lịch), Thương (1711-1066 trước Tây-lịch), Chu (1066-255 trước Tây-lịch) đều có luật lệ. Đến nay các bộ luật trên không c̣n nữa.

Bà đưa ra tập sách mỏng tiếp:

– Đây là bộ luật nước Trịnh, do Tử Sản soạn (536 trước Tây-lịch). Bộ luật nước Tần do Triệu Dương-Hoán soạn, khắc vào đỉnh (513 trước Tây-lịch). Bộ luật Trúc-h́nh do Đặng Tích soạn cho nước Trịnh (501 trước Tây-lịch) khắc vào thẻ trúc.

Bà đưa ra tập sách thứ nh́:

– Đến đời Chiến-Quốc (403-232 trước Tây-lịch) Lư Khôi soạn ra bộ Pháp-kinh. Bộ Pháp-kinh chia làm sáu thiên:

1. Đạo pháp (tội trộm).

2. Tặc pháp (tội cướp).

3. Tư pháp (h́nh phạt tù).

4. Bộ pháp (thủ tục).

5. Tập pháp (luật linh tinh).

6. Cư pháp (định nghĩa).

Khi soạn ra bộ Pháp-kinh, Lư Khôi đă tham khảo các bộ luật đương thời của nước Ngụy, Trịnh về h́nh luật, nước Tần về thủ tục. Nước Chu về trộm cướp, định nghĩa. Bộ Pháp-kinh Lư Khôi soạn cho Ngụy Văn-Công (424-387 trước Tây-lịch). Song các pháp gia đời Thủy-Hoàng, đời Tây-Hán cho đến nay đời Đông-Hán đều lấy đó làm căn bản.

Nói về luật lệ là vấn đề khô khan, tẻ lạnh. Song một là Hoàng Thiều-Hoa đẹp như tiên. Hai là tiếng của bà trong, ngọt như cam thảo. Nên dù người ít đọc sách như Trấn-viễn đại tướng quân Hồ Đề, mà cũng theo dơi kịp.

Thiều-Hoa tiếp:

– Đến đời Cao-tổ nhà Hán (206-194 trước Tây-lịch). Thừa-tướng Tiêu Hà sửa đổi luật Lư Khôi, thêm vào ba chương nữa là:

1. Hộ luật, nói về kiểm tra dân số, giá thú, gia tộc.

2. Hưng luật, nói về thuế khoa, triều cống.

3. Khái luật, nói về quân đội, chuyên chở, chuồng voi, chuồng ngựa v.v.

Bộ Pháp-kinh có sáu thiên. Nay thêm ba thiên nữa thành chín thiên. V́ vậy người ta gọi luật thời Hán Cao-tổ là luật Tiêu Hà hay Cửu chương luật.  

Bà đưa ra tập sách nữa:

– Kịp khi vua Quang-Vũ trung hưng nhà Hán. Giữa lúc đại ca Tự-Sơn đem quân đánh Kinh-châu. Quang-Vũ thấy đại nghiệp sắp thành, mới sai sứ đến Kinh-châu hỏi về việc canh cải luật. Đại ca Tự-Sơn đề nghị sửa chữa, thêm bớt một số điều. Nhất là định rơ quyền hạn, tổ chức hậu cung, hầu tránh nạn Vương Măng. Song bản chất vẫn giữ nguyên như bộ Cửu-chương luật.

Tổng trấn Luy-lâu Quách A hỏi:

– Không biết nội dung bộ Nam-luật như thế nào?

Nguyễn Tam-Trinh đáp:

– Khác nhiều lắm. Thứ nhất về nguyên tắc, thứ nh́ về tổ chức. Về nguyên tắc th́ bộ Nam-luật đặt trên căn bản tục lệ và nhân trị. Bộ Pháp-kinh đặt căn bản trên uy quyền và pháp trị. Tục lệ là ǵ? Khi một số người sống chung với nhau, lâu ngày tự nó có những giao ước không thành văn, dần dà biến thành tục lệ. Quốc-tổ đă chu du thăm trăm khu vực khác nhau. Sưu tầm phong tục, luật lệ của họ, về thu lại thành bộ luật chung. C̣n bộ Pháp-kinh đặt trên uy quyền. Vua muốn thế nào, th́ cứ ban luật, dân chúng phải tuân theo.

Bắc-b́nh vương Đào Kỳ hỏi:

– Điều này cháu đă nghe biết qua. Khi vua chúa ngồi trên, đặt ra luật, trái với tập tục, bắt dân tuân. Dĩ nhiên họ không tuân, thế là họ bị bắt tội. Do vậy bên Trung-quốc hay xảy ra cảnh dân làm loạn. Thưa bác thế c̣n nhân trị, pháp trị là ǵ?

Nguyễn Tam-Trinh tiếp:

– Luật đặt căn bản nhân trị, mục đích giáo hóa dân chúng hơn là dùng h́nh pháp bắt tuân theo. Vua phải biết tu thân, làm gương cho người trong nhà theo. Đó là đạo tề gia. Gia đ́nh ḿnh làm gương cho lân bang, cho cả nước bắt chước. Đó là đạo trị quốc. Nước ḿnh thanh b́nh, vua tôi đạo đức, khiến thiên hạ hướng về. Đó là đạo b́nh thiên hạ. Những điều này chép đầy đủ trong sách Đại-học.

Bắc-b́nh vương Đào Kỳ nh́n Lục Mạnh-Tân. Vương chập chờn sống lại thời thơ ấu, phải phiêu bạt làm tôi tớ tại Thái-hà trang. Được Lục Mạnh-Tân yêu thương, tận tâm dạy dỗ. Lục c̣n dặn Vương:

– Với chí khí của con, sau này con sẽ thành đại nghiệp. Đại nghiệp thành, con nên dùng nhân đức trị dân. Chứ đừng dùng h́nh pháp như nhà Tần, nhà Hán bên Trung-nguyên.

V́ vậy Vương đỡ lời Nguyễn Tam-Trinh:

– Pḥ-mă An Tiêm đă từng nói: Người ta sinh ra vốn chưa biết ǵ cả. Khi lớn lên, tiêm nhiễm thói xấu, thành ra phạm tội. Cần phải giáo hóa. Bên Trung-quốc, sau đó gần hai ngh́n năm, Mạnh-Tử nói Nhân chi sơ tính bản thiện. Cũng như nước chảy chỗ trũng. Từ đời Chu (1066-770 trước Tây-lịch) cũng dùng nhân trị. Cho đến thời Chiến-quốc, các pháp gia như Hàn-Phi, Thương Ưởng, Lư Tư mới đưa ra pháp trị. Bộ Pháp-kinh soạn theo nguyên tắc pháp trị.

Nguyễn Tam-Trinh cầm bộ Nam-luật đưa ra:

– Bộ Nam-luật có mười thiên. Khác xa với luật Trung-nguyên. Luật Lĩnh-Nam hoàn toàn đặt trên nguyên tắc nhân trị. Nội dung có mười chương như sau:

1. Quốc-cương, nói về tổ chức triều đ́nh, quan chế, hậu cung, sự truyền ngôi.

2. Bách-hầu, định rơ tổ chức, ranh giới, quyền hạn của các lạc hầu, lạc tướng.

3. Điển-lệ, định ra lễ nghi triều đ́nh, cách tế lễ của vua cho tới thứ dân. Phương cách cúng giỗ tổ tiên.

4. Giá-thú, định việc cưới hỏi, tổ chức gia tộc. Bổn phận mỗi người trong gia tộc, cùng tang chế.

5. H́nh-pháp, h́nh luật áp dụng trên toàn quốc. Tuy nhiên trong chương này c̣n dự trù, mỗi địa phương có thể tăng hay giảm tùy theo tục lệ.

6. Khái-khố, tổ chức thuế khóa, công khố, ấn định giá cả.

7. Binh-luật, tổ chức binh bị. Phương cách thăng chức, tước. H́nh phạt trong quân.

8. H́nh-chế, định rơ thủ tục bắt giam, xử án, cùng các h́nh phạt đặt ra.

9. Tranh-tụng, thủ tục kiện thưa, bồi thường.

10. Phong-thần, định rơ thể lệ thờ cúng các thần. Những công lao được phong thần. Tài sản các đ́nh chùa để cúng tế thần.

Công chúa Thánh-Thiên bàn:

– Như vậy bộ Nam-luật chi tiết hơn Cửu-chương luật nhiều. Có điều một số khoản không hợp với t́nh thế Lĩnh-Nam hiện tại. Như chương thứ bảy về Binh-luật. Thời vua Hùng, quân trừ bị quốc gia rất ít. Lại nữa chỉ có nam tướng, nam binh. Hồi hội binh ở Phiên-ngung bàn về tổ chức binh bị, Bắc-b́nh vương đă có kế hoạch đầy đủ. Kế hoạch đó hiện đang thi hành. Tôi thấy tổ chức binh bị như vậy kiện toàn nhất. Chúng ta cần tu bổ bộ Nam-Luật, chứ không nên sửa đổi binh chế của Bắc-b́nh vương. Bởi chúng ta tiến hơn nhiều. Nam cũng như nữ, đều có trách vụ với đất nước. Trong các trang, lạc hầu đều cưỡng bách nam, nữ từ mười ba tuổi phải tập vơ, học binh sự. Từ mười tám, nam nữ đều được xung vào quân của lạc vương hoặc quân quốc gia. Hiện các nữ tướng đông hơn nam tướng.

Công chúa Phùng Vĩnh-Hoa tiếp:

– Tôi đồng ư với công chúa Thánh-Thiên. Về binh luật, phải sửa hoàn toàn. Những ǵ Bắc-b́nh vương cho tổ chức, coi như thành luật rồi. Không cần phải thêm bớt nữa.

Triều đ́nh thông qua mọi khoản. Cuối cùng quyết định cử một ủy ban tu bổ. Ủy ban do Đại tư-không Nguyễn Tam-Trinh cầm đầu. Trong ủy ban có Phùng Vĩnh-Hoa, Nguyễn Phương-Dung, Đào Hiển-Hiệu, Nguyễn Thành-Công, Phan Đông-Bảng, Vũ Công-Chất, Lê Chân, Hồ Đề, Lục Mạnh-Tân, và Nguyễn Quư-Lan.

Vua Trưng ban chỉ dụ:

– Xét như các bộ luật Trung-quốc. Từ bộ H́nh-thư của Tử Sản, đến bộ Cửu-chương luật. Trẫm thấy các luật gia Trung-quốc quá câu nệ cổ nhân. Những ǵ của H́nh-thư, nay không hợp thời, thế mà vẫn giữ nguyên. Vậy các vị tu bổ Nam-luật, thành bộ luật Lĩnh-Nam cần nhằm vào bằng này điều:

* Một là những ǵ thành truyền thống, tục lệ của tổ tiên. Tuyệt đối không được sửa đổi.

* Hai là trọng quyền địa phương, tức tục lệ. Khoản nào thấy có sự trái ngược với phong tục địa phương, cần phải có một điều châm chước. Như Nam-luật bắt con gái phải kín cổng cao tường. Trong khi đó các sắc dân Mường, Mán, Thái v.v. đêm đêm thiếu nữ thường ra suối cùng tắm với nhau. Phong tục sắc dân đó như vậy. Cần phải có một điều khoản dự trù, sao cho không xáo trộn.

* Ba là tránh tập trung tài sản vào một số nhà giàu. Ấn định rơ, nhà giàu nhất chỉ được ba mươi mẫu ruộng. C̣n lại xung công. Cũng tránh không nên để một người dân nào không có ruộng đất.

* Bốn là kể từ nay. Người nào có tài, có đức th́ giữ quyền cai trị. Bỏ hẳn lối cha truyền con nối.

* Năm là duy tŕ chế độ một vợ, một chồng. Chế độ đa thê, đa phu băi bỏ hẳn. Luật cũng nên dự trù điều khoản đă rồi cho những người đa thê, đa phu.

* Sáu là cưỡng bách học tập. Văn tự chính thức là Khoa-đẩu. Các khóa thi được tổ chức cả văn lẫn vơ.

 GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ :

Trong bộ Hậu Hán-thư của Phạm Việp, quyển hai mươi bốn (từ trang 727 đến 854) và quyển bảy mươi sáu (từ trang 2457 đến 2464) do Trung-hoa thư cục hương cảng xuất bản 1978 có nhắc tới việc sau khi Mă Viện đánh chiếm được đất Giao-chỉ. Viện làm bản trần tấu về triều rằng sự khác biệt của luật Lĩnh-Nam với luật Trung-quốc đến mười điểm. Sự thực là gần như khác hoàn toàn. Tiếc rằng hiện nay, không c̣n t́m ra được bộ luật đó nữa. Buồn quá! Mà dù có t́m ra được, th́ với loại chữ Khoa-đẩu, cũng chỉ để ngắm nh́n tiếc thương mà thôi.

Vào một buổi trưa, Trưng Đế đang cùng tam công, tể tướng, đại thần nghị sự. Hoàng môn quan vào tâu:

– Tâu bệ hạ có một lăo bà đến trước cổng thành, đánh ba tiếng trống. Xin vào yết kiến bệ hạ. Thần cật vấn hỏi lư do. Lăo bà không chịu nói. Xin tâu để bệ hạ định liệu.

Trưng Đế truyền chỉ cho vào.

Lát sau, một bà già tuổi khoảng sáu mươi, mặt mũi lem luốc, đầu bù tóc rối, quần áo dơ bẩn, bước vào đại điện. Bà liếc nh́n quần thần, rồi ngửa mặt lên trời mà cười.

Lễ-bộ thượng thư Nguyễn Quư-Lan hỏi:

– Lăo bà tên họ là ǵ? Xin yết kiến triều đ́nh có việc chi muốn nói.

Lăo bà, bưng mặt cười khúc khích, rồi lại khóc hu hu nói:

– Than ôi! Trời đất tuy rộng bao la. Mà không một bóng người!

Nguyễn Quư-Lan quát:

– Ở đây có Hoàng-thượng, có triều thần trên trăm người. Sao lại bảo không có ai? Là dân Lĩnh-Nam, lăo bà phải biết lễ kính. Tội bất kính đối với triều đ́nh, đáng đem ra chặt đầu.

Lăo bà càng cười:

– Hoàng đế họ Trưng, xuất thân nghĩa hiệp. Tam công đều xuất thân nghĩa hiệp. Tể tướng con nhà danh gia. Lễ-bộ thượng thư, là đệ tử phái Tản-viên. Thế mà cũng hăm đem người ta ra chặt đầu hay sao? Thôi ta đi đây. Thế mới biết nghe không bằng thấy. Ta chả thèm nói với bọn mi nữa.

Lăo bà thủng thẳng bước đi. Nguyễn Quư-Lan vẫy tay. Hai nữ vơ sĩ tới bắt giữ lăo bà. Lăo lạng người tránh khỏi. Thân pháp cực kỳ thần tốc. Phương-Dung kêu lên một tiếng kinh ngạc:

– Úi chà!

Nguyên lăo bà xử dụng thân pháp của phái Long-biên. Quách A hiện giữ chức tổng trấn Luy-lâu. Nàng lạng người đến chụp lăo bà. Lăo đứng nguyên chờ Quách A chụp. Quách A chụp vai bà. Các ngón tay của nàng như chụp phải phiến đá. Nàng nhảy lùi lại kêu lên một tiếng:

– Úi chà, đau quá!

Nàng vừa đứng dậy, lăo bà đă ra khỏi điện. Quách A chạy theo. Nàng cầm tù và thổi. Đoàn Thần-ưng hơn mười con bay đến tấn công. Lăo bà cười nhạt một tiếng. Hai tay vung lên trời, như hai chiếc hoa sen nở. Thần-ưng thứ nhất lao xuống. Bị bàn tay của lăo hút vào. Lăo liệng ra xa. Thần-ưng thứ nh́ lao xuống, lại bị lăo dùng chưởng hút mất. Phút chốc cả mười Thần-ưng đều bị bắt. Lạ thay, mười Thần-ưng bị áp lực bàn tay lăo bà, không sao bay được.

Trưng Đế thấy vậy. Vẫy tay bảo Quách A:

– Sư muội, không được động thủ.

Binh-bộ thượng thư Chu Bá đứng ngoài nh́n thấy dáng dấp lăo bà rất quen thuộc. Trong nhất thời ông không nhớ ra đă gặp lăo ở đâu. Ông hỏi:

– Xin cao nhân cho biết phương danh, quí tính.

Bà-lăo cười nhạt:

– Các người tự nhận nghĩa hiệp, mà ta đánh trống xin vào tŕnh bày kế sách. Các ngươi không được lời chào hỏi. Cũng chẳng kéo ghế mời ta ngồi. V́ vậy ta mới bảo trời đất rộng. Mà chẳng có ai.

Bà lạng ḿnh, chỉ thấy bóng trắng thấp thoáng, bà đă rút được kiếm đeo phía sau Quách A. Uốn cong người, nhảy vọt lên không, bà lăo quay đến năm ṿng liền, đáp xuống trước mặt Phương-Dung. Ánh kiếm đă loé lên đưa vào cổ nàng, Phương-Dung nhảy lùi liền bốn bước, tay nàng rút kiếm phản công. Song bà lăo cũng nhảy theo, mọi người chỉ thấy hoa mắt lên, Phương-Dung với lăo bà đă chiết được trên mười chiêu.

Trưng Đế hỏi Chu Bá:

– Sư thúc! Người nghe nhiều, biết rộng! Có thấy nói trong phái Long-biên c̣n nữ cao nhân nào khác ngoài Nguyễn Phan tiên sinh không?

Chu Bá ngơ ngẩn xuất thần, một lúc rồi nói:

– Thần chưa từng nghe qua.

Quách A, Trần Năng sợ lăo bà là gian tế, truyền dẫn Thần-hổ, Thần-báo, Thần-ưng bao vây kín như thành đồng vách sắt.

Giữa ṿng vây, lăo bà với Phương-Dung quấn lấy nhau như hai quả cầu bạc. Không ai đủ nhăn lực phân biệt được kiếm của người nào. Trưng Nhị nói với Trưng Đế:

– Kiếm pháp hai người cùng một môn hộ. Phương-Dung tuổi trẻ, thông minh. Lăo bà kinh nghiệm, nội lực thâm hậu. Nếu đấu trong ṿng ba trăm hiệp, khó biết ai thắng, ai bại. C̣n đấu ngoài ba trăm hiệp, e Phương-Dung thua v́ nội lực kém hơn.

Chu Bá ngơ ngẩn một lúc nói:

– Long-biên kiếm pháp, chỉ người chưởng môn mới học được hết tinh hoa. Tôi tưởng hiện trên thế gian này, chỉ có Đào Kỳ, Phương-Dung, Phật-Nguyệt biết xử dụng mà thôi. Không ngờ lăo bà này lại cũng biết xử dụng. Không biết bà là ai? Cứ như tuổi tác, ắt bà ngang vai với nhạc phụ của tôi.

Trần Năng ghé tai Chu Bá:

– Sư huynh coi ḱa! Lăo vừa xử dụng nội công Tản-viên, vừa xử dụng nội công Long-biên. Lăo khéo léo hợp hai thứ làm một. Cho nên kiếm chiêu khi âm, khi dương.

Hai người đấu được trên bốn trăm hiệp. Trưng Nhị sợ một trong hai người bị tử thương, Lĩnh-Nam thiệt mất một kiếm khách. Bà bảo Trần Năng:

– Sư thúc vào can hai người ra đi.

Trần Năng vận Lĩnh-nam chỉ, chĩa lên không:

– Xin hai vị ngừng tay!

Miệng nói, bà phóng hai chỉ, véo, véo vào giữa kiếm hai người. Hai người bị chỉ lực Thiền-công mạnh như vũ băo, đẩy kiếm lệch ra ngoài. Cả hai cùng lùi lại.

Phương-Dung chắp tay hướng lăo bà:

– Đa tạ tiền bối nương tay.

Lăo bà cười nhạt:

– Nương với chả nương! Ta cố gắng mà không thắng được mi.

Lăo chỉ Trần Năng:

– Con nhỏ kia! Nội công của mi rơ ràng của Tản-viên, tại sao lại pha lẫn thứ nội công kỳ lạ. Dường như của phái Liêu-đông?

Câu nói vừa dứt, lăo phóng chưởng đánh Trần Năng. Cả triều đ́nh đều kêu lên kinh ngạc. V́ chiêu bà phát ra tên Ngưu hổ tranh phong của Tản-viên. Công lực mạnh như núi lở băng tan.

Trần Năng không dám khinh thường. Bà vận khí ra Thủ-tam-dương kinh đỡ. B́nh, lăo bà tóc dựng ngược, mắt lộ vẻ kinh khủng. C̣n Trần Năng lui lại đến hai bước. Thắng bại đă phân.

Chu Bá đứng ngoài lược trận, kinh hăi nghĩ:

– Công lực sư muội hơn ta nhiều. Mà đối chưởng với lăo bà này, c̣n bị sút kém. Ta tưởng trên đời chỉ có Đào Kỳ với sư phụ, có thể thắng được sư muội mà thôi. Lăo là ai mà hết xử dụng kiếm pháp Long-biên đến xử dụng chưởng Tản-viên?

Lăo bà cười nhạt:

– Khá lắm! Th́ ra lăo già chưa chết Trần Đại-Sinh đă dốc túi truyền cho mi bản lĩnh một đời của lăo. Hăy đỡ chưởng nữa của ta.

Lăo bà vung tay ra chiêu Ngưu tẩu như phi. Chưởng phong không có gió lộng. Đúng là chưởng âm nhu. Trần Năng không dám coi thường. Bà vận Thiền-công Vô ngă giả tướng, cũng phát chiêu Ngưu tẩu như phi. Chưởng không có gió. Hai chưởng gặp nhau, sùy một tiếng. Cả hai đều lùi lại.

Lăo bà ngơ ngẩn, tay ôm chưởng xuất thần suy nghĩ. Mắt mơ màng nh́n vào không gian xa vời.

Phương-Dung vẫy mọi người lùi lại.

Lúc đầu thấy lăo bà dùng thân pháp Long-biên. Phương-Dung tưởng bà là cao nhân bản phái. Sau khi chiết trên bốn trăm chiêu. Bà mới thấy kiếm chiêu của lăo bà không hoàn toàn giống Long-biên. Đôi khi c̣n pha thêm nội lực Tản-viên vào nữa. Kiếm pháp của bà nhiều chỗ sai lạc. Song lăo bà kinh nghiệm chiến đấu, nên mới chống nổi.

Lăo bà nói với Trần Năng:

– Ta lầm! Lúc đầu thấy chỉ lực của mi làm mất nội lực của ta. Ta cho rằng mi xử dụng nội công Liêu-đông. Song qua chưởng vừa rồi, dường như mi xử dụng một thứ nội công quang minh chính đại, hóa giải chưởng lực của ta. Nội lực mi tới tŕnh độ này, ta e hơn cả Lê Đạo-Sinh. Ai dạy mi nội công đó.

Trần Năng lễ phép:

– Người dạy tiểu nữ không biết vơ công. Ngài người Tây-Trúc, pháp danh Tăng-Giả Nan-Đà.

Lăo bà khách khí hơn:

– Ta muốn lĩnh giáo mấy chiêu nữa của ngươi.

Bà phát chưởng tấn công Trần Năng. Chưởng của bà thuộc Tản-viên. Tay trái xử dụng âm ḱnh, tay phải xử dụng dương ḱnh.

Trần Năng vận Thiền-công, xử dụng Phục-ngưu thần chưởng. Bất cứ lăo bà xuất chiêu nào, bà đều hóa giải được.

Trưng Nhị lược trận nói với Trưng Đế:

– Lăo bà này học được cả nội công âm nhu của phái Long-biên. Nội công dương cương của phái Tản-viên. Bà lại xử dụng Phục-ngưu thần chưởng, cả cương lẫn nhu giống như Đào Kỳ. Em nghĩ có lẽ Đào Kỳ liên hệ tới bà. Hai ít ra y đă truyền tất cả sở học của y cho bà.

Hai người đấu với nhau đến chưởng thứ hai trăm, lăo bà nhảy lùi lại:

– Ta phục ngươi. Ta nhận thua ngươi!

Lăo bà ôm mặt khóc thảm thiết.

Trần Năng hỏi:

– Thưa tiền bối. Có lẽ tiểu bối ra tay nặng quá chăng?

Lăo bà càng khóc lớn:

– Ta khổ công luyện vơ bấy lâu, hy vọng t́m lăo già chưa chết Trần Đại-Sinh trả thù. Không ngờ... không ngờ, đến học tṛ y, mà ta không thắng nổi, c̣n mong ǵ trả thù nữa.

Trần Năng lễ phép hỏi:

– Thưa bà, sư phụ tôi suốt đời chỉ biết lấy y đạo cứu thế. Đôi khi phải ra tay, chẳng qua để cứu người mà thôi. Ngay trong trận Cẩm-dương, người bị đối thủ lừa dối, đánh trọng thương. Người cũng không nỡ giết. Không hiểu người đă làm ǵ để bà thù hận người ? Ở đây có sư huynh Chu Bá với tôi đều là đệ tử người. Sư phụ chúng tôi hiện vân du thiên hạ. Vậy bà có thể đánh, có thể mắng, có thể chửi chúng tôi. Chúng tôi xin gánh chịu cho sư phụ. Không biết có được không?

Lăo bà nh́n Trần Năng, rồi nh́n Chu Bá. Bà ngơ ngẩn xuất thần rồi hỏi:

– Ngươi họ Chu phải không? Ngươi được Lê Đạo-Sinh gả con gái cho. Vậy ngươi có biết cha, mẹ ngươi là ai không?

Chu Bá nghe lăo bà hỏi bằng giọng kẻ cả. Ông đoán có lẽ bà biết tông tích của ông cũng nên. Ông nhũn nhặn:

– Chu-Bá này suốt đời có một mối hận, v́ không biết gốc tích ḿnh. Nếu lăo bà biết, xin chỉ dạy. Hậu bối nguyền không quên ơn.

Lăo bà cười:

– Dĩ nhiên ta biết. Ta biết người như ta biết ta vậy.

Chu Bá càng kính cẩn hơn:

– Trước đây, cha mẹ tôi khởi binh đánh đuổi giặc Hán, đều tử trận cả. Tôi được một tỳ nữ của cha tôi đem đến trang Thái-hà ở, nuôi tôi khôn lớn. Tôi được Lục trúc tiên sinh thu làm đệ tử, c̣n cho làm rể. Nhiều lần gặng hỏi nhũ mẫu tên cha mẹ tôi, người nhất định không chịu trả lời. Chỉ bưng mặt khóc. V́ vậy tôi không dám hỏi thêm. Nhũ mẫu qua đời rồi, mà tôi vẫn không biết cha mẹ tên ǵ? Gốc tích thân thế ra sao.

Vua Trưng an ủi Chu Bá:

– Anh hùng đâu quản xuất thân. Chu sư thúc, người đă thành đại anh hùng Lĩnh-Nam, th́ dù song thân thế nào chăng nữa, chúng tôi vẫn kính trọng sư thúc.

Lăo bà cười nhạt, hỏi Trưng hoàng đế:

– Các ngươi tự xưng anh hùng, mà tiếp đăi hiền tài như thế này ư?

Trưng đế bảo Phương-Dung:

– Lỗi ở ta. Sư muội. Hăy kéo ghế mời lăo bà an vị.

Phương-Dung nh́n thân pháp, vơ công của lăo bà, biết lăo có liên hệ với phái Long-biên. Bà vội kéo ghế mời lăo bà ngồi, truyền rót nước, đem bánh trái kính cẩn:

– Xin cao nhân cho biết quí tính phương danh.

 

Hết Hồi 84