Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

ANH HÙNG TIÊU SƠN

Hồi 19

 

Quyển I

Quyển II

Quyển III

 

In ra

 Hồi thứ mười chín

Tiên Cô Giáng Trần

 

Xe đi vào giữa xă. Có tiếng ào ào từ xa đưa đến. Đinh Toàn lắng tai nghe:

-  H́nh như gần đây có chợ. Chợ đang họp, nên có tiếng vọng lại. Này cháu, phiên chợ làng này họp vào những ngày nào?

-  Làng chúng tôi thuộc tổng Hồng-sơn. Tổng có ba xă. Xă nào cũng có chợ. Hội đồng quan viên ba xă họp nhau, đưa ra hương ước rằng: Xă Vạn-thảo phiên ngày một, ngày bẩy. Xă Vạn-thú họp ngày năm, ngày chín. Xă Vạn-hoa họp ngày ba ngày tám. Ngoài phiên ra, hàng ngày dân trong xă cũng họp chợ mua bán lẻ tẻ, gọi là chợ hôm, bởi họp từ sau giờ ngọ.

Đinh Toàn ngậm ngùi trong ḷng. Hồi y bị Lê-Hoàn cướp ngôi, tuổi c̣n nhỏ, y không có ư thức ǵ. Y thích ăn bún riêu. Mỗi lần như vậy y lại gọi người tỳ nữ tên Lê Thúy dẫn đi chợ phiên ngoài thành Hoa-lư. Từ sau trận Cẩm-thủy, y không biết tin tức Lê Thúy, cũng chẳng có dịp đi chợ phiên. Y đề nghị:

-  Cháu Hiểu này. Cháu có thể dẫn bọn ta xem chợ không?

Hiểu nhanh nhẹn:

-  Thưa bác được, kính mời bác cùng các vị vào chợ mua sắm.

Chợ Vạn-thảo nằm bên bờ sông. Sông không lớn, nhưng thuyền, bè từ các nơi đổ về lũ lượt đậu trên bến. Triệu Huy có nhiều ư thức nhất về quân-sự. Y ngây người ra nh́n những người dân quê Việt chèo thuyền, neo thuyền, đi đứng trên những con thuyền nhỏ tṛng trành như xiếc leo dây. Y tấm tắc khen ngợi trong ḷng:

-  Hơn ngh́n năm nay, trong vơ lâm truyền tụng rằng người Việt giỏi thủy tính nhất thiên hạ quả không sai. Thời Đông-hán thua Lĩnh-nam bẩy trận. Trong đó hết sáu trận là thủy chiến. Cứ như những người nông dân này, khi nhập ngũ, không cần huấn luyện, họ cũng là chiến sĩ thủy quân ưu tú nhất. Hoằng Tháo bị bắt trên sông Bạch-đằng. Đến bản triều bọn Lưu Trừng cũng bị mất mạng, chôn theo năm vạn quân trong cùng một gịng sông. Ḿnh phải tấu về triều, tự hậu nếu đem quân sang Giao-chỉ, th́ tránh dùng thủy chiến.

Huy để ư, trên sông có ba loại thuyền. Loại nhỏ nhất đan bằng tre, ḷng thuyền trát nhựa cản nước. Loại này dài không quá mười bước, rộng không quá năm bứơc. Trên nóc thuyền có mui che mưa nắng. Có thuyền mui h́nh cong như ổ ṭ ṿ. Có thuyền mui là một tấm phên tre lợp lá, chống bằng bốn cọc tre. Loại thuyền thứ nh́ bằng gỗ, dài từ hai mươi bước tới ba mươi bước. Loại này chỉ có một tầng. Trên mặt sàn thuyền, chở đầy hàng hóa. Thuyền di chuyển bằng sức chèo hoặc bằng sức chống của sào. Lọai thứ ba hơi ít, đó là thuyền đinh đi biển. Thuyền cao ṿi vọi, dài hàng trăm bước, cao hai, ba tầng. Tầng trên cùng có nhiều cột buồm, có buồng lái cho tài công. Tầng thứ nh́, và tầng cuối có nhiều chèo.

Chợ Vạn-thảo chia làm hai loại gian hàng. Loại thứ nhất, ở trung ương gồm bốn cái đ́nh lớn không tường, chỉ có cột gỗ, với nóc lợp ngói. C̣n lại là lều, nóc bằng phên lát lá nón.

Phụng-Hiểu chỉ đ́nh:

-  Hàng ngày không có phiên, th́ người trong làng họp chợ hôm. Chợ hôm ít người nên được họp trong đ́nh. Khi có chợ phiên như hôm nay, th́ ngày hôm trước người thị chợ phải đem cọc ra đóng, rồi chụp mái lều lên. Ai dùng lều phải trả tiền. Mỗi phiên một lều trả tiền-rưỡi.

Chợ gồm nhiều khu, khu bán tơ vải, khu bán ngũ cốc, khu bán rau cỏ, khu ban tôm cá, khu bán thịt. Qua khu bán quà, Mỹ-Linh cứ liên miên hỏi về các món ăn. Phụng-Hiểu trả lời không kịp. Vừa đến mấy hàng bún riêu, hơi xông lên thơm nức. Đinh-Toàn chỉ một hàng nói:

-  Nào, mời các vị ngồi xuống ăn bún riêu đă.

Cô hàng bán bún riêu tuổi khỏang mười bẩy, mười tám, dáng người rỏng cao, khuôn mặt thanh nhă, đôi môi hồng mọng. Cô mặc áo lụa mầu mỡ gà, yếm trắng, đầu vấn khăn mỏ quạ. Cô thấy Phụng-Hiểu, hỏi:

-  Anh trương-tuần. Anh dẫn khách đắt hàng cho em hả?

-  Đúng vậy, này cô Trúc, cô phải trả ơn anh đấy nhé?

-  Dĩ nhiên. Ḿnh là người giáp Nh́ với nhau, bao giờ chả bênh nhau.

Cô hỏi Đinh Toàn:

-  Bún riêu có hai loại bát. Loại bát ăn cơm và loại bát ăn canh. Loại bát ăn cơm th́ một tiền năm bát. C̣n loại bát ăn canh th́ một tiền hai bát. Bác muốn xơi loại nào?

Triệu Huy xen vào:

-  Chúng tôi có chín người, với anh Hiểu là mười. Tôi xin trả tiền hết. Cô cứ múc mời khách. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả.

Bún riêu là món ăn b́nh dân của thôn quê Đại-việt. Đối với Thanh-Mai, Phụng-Hiểu, họ ăn thường ngày. C̣n Đinh Toàn, từ ngày lưu lạc đến giờ đă gần bốn mươi năm, bây giờ mới được ăn lại. C̣n bọn Triệu Huy, Bảo-Ḥa, Mỹ-Linh lần đầu tiên được ăn món ăn thôn quê, họ ngồi chờ cô hàng múc riêu, miệng nuốt nước miếng ừng ực.

Cô hàng bún riêu lấy bún bỏ vào bát, rau muống của cô chẻ nhỏ như sợi tóc, ngâm nước, thành quăn queo. Trong rổ rau muống, c̣n có kinh giới, tía tô thái nhỏ. Hóa cho nên rổ rau muống đưa thêm mùi hương lên mũi thực khách thêm thơm tho. Sau khi bỏ bún vào bát, cô bốc rau muống, rau thơm bỏ lên trên. Cô không quên gắp tư mắm tôm với lát ớt vào cạnh bát. Cuối cùng, cô chan riêu, lễ phép mời khách:

-  Mời các ông, các bác, các cô, các cậu xơi đi.

Đinh Toàn và hai ba cái, hết một bát. Cô hàng múc bát thứ nh́. Ông lại và mấy cái hết nhẵn. Trong khi đó Mỹ-Linh cũng ăn hết một bát. Nàng là công chúa, hàng ngày được ăn không biết bao nhiêu miếng ngon vật lạ, nhưng bún riêu là món b́nh dân, chưa bao giờ nàng được ăn. Sau khi ăn hai bát, bụng no rồi, nàng nghĩ:

-  May mắn ḿnh theo chú hai ra ngoài mới được ăn những món này. Chỉ tội hai đứa em Kim-Thành, Trường-Ninh của ḿnh, ở măi trong cung, chẳng được ăn miếng ngon thôn quê. Kỳ này về kinh, ḿnh phải rủ bọn nó trốn ra ng̣ai thành Thăng-long ăn quà mới được.

Ăn xong, tính tiền, mười người ăn hết ba mươi mốt bát. Ngô Tích móc tiền trao cho cô hàng:

-  Phương danh cô là Thanh-Trúc phải không? Ba mươi mốt bát giá mười tiền rưỡi. Nhưng tay cô đẹp thế kia, mà múc riêu cho bọn phàm phu tục tử như tôi ăn th́ biết trả bao nhiêu cho vừa? Thôi tôi trả cô một quan vậy.

Một quan tiền Thuận-thiên là sáu trăm đồng, Tích trả cô gấp hai mươi lần gía bán thông thường.

Thanh-Trúc ngơ ngác không hiểu. Phụng-Hiểu giải nghĩa:

-  Tiên sinh đây họ Ngô tên Tích, người nứơc Tống sang sứ nước ta. Tiên sinh thấy em xinh đẹp lễ phép, tặng thêm tiền cho em đấy.

Thanh-Trúc ít học. Nàng hỏi lại:

-  Em đă dốt nát, không biết chữ, anh cứ nói chữ th́ em hiểu sao nổi?

Phụng-Hiểu giảng nghĩa:

-  Ông này là quan của Tàu. Vua Tàu sai đi sứ sang nước ta.

Thanh-Trúc tươi mặt:

-  Cảm ơn ông sứ Tàu.

Nàng liếc mắt nh́n tay, rồi lại cúi xuống nh́n chân Triệu Huy. Triệu Huy chưa hết kinh ngạc, nàng lại nh́n Ngô Tích, Triệu Anh. Đinh Toàn lạ lùng hỏi:

-  Cô hàng bún! Mấy vị này có ǵ lạ đâu mà cô nh́n kỹ thế?

Thanh-Trúc nhoẻn một nụ cười:

-  Trong làng này có nhiều người ghẻ Tầu. V́ vậy tôi nh́n chân tay các ông Tầu xem có ghẻ không!

Bảo-Ḥa vỗ vai Trúc:

-  Cô đừng sợ. Ba ông sứ Tầu này không bị ghẻ chân tay, mà ghẻ tim, ruột.

Bọn Triệu Huy biết Bảo-Hoà chửi ḿnh, nhưng giữa chợ, y đành nhịn cho qua.

Tới gốc cây đề, tiếng nhạc từ đâu đó vọng lại, êm tai lạ lùng. Mỹ-Linh rất giỏi âm nhạc, nàng lắng tai nghe, rồi nói:

-  Tiếng đàn bầu. Tại sao giữa chợ quê này mà lại có nghệ sĩ tài ba đến thế nhỉ? Chúng ḿnh lại xem đi.

Dưới gốc đa to cỡ mười người ôm. Một cặp nghệ sĩ đang tŕnh diễn. Người chồng mù, tuổi khoảng ba mươi. Gương mặt khắc khổ, da dăn deo, nhưng đôi bàn tay rất đẹp. Người vợ tuổi khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu, gương mặt tươi như hoa. Đôi mắt sáng như sao.

Người chồng ngồi trước cây đàn bầu, đang bật lên những âm thanh réo rắt. Người vợ tay kéo nhị, miệng hát. Bọn Thanh-Mai tới, th́ khúc hát vừa hết. Thính chúng vỗ tay rào rào. Người đàn bà bưng cái rổ ch́a ra. Mọi người ném tiền vào trong. Nàng luôn miệng nói câu cảm ơn.

Triệu Huy thấy cây đàn có một dây, th́ ngạc nhiên:

-  Đàn ǵ mà chỉ có một dây!

Người vợ đáp:

-  Cây đàn này là nhạc khí có từ thời vua Hùng, do Trương Chi chế ra, tên gọi đàn bầu. Tiếng Hán-Việt gọi là Độc-huyền cầm.

Người chồng hướng vào thính chúng:

-  Nào, bây giờ quư thính giả ưa thích bản nào, chúng tôi xin tŕnh tấu.

Một người hỏi:

-  Bản nào ông bà cũng thuộc sao?

-  Vâng! Chúng tôi thuộc hết.

Ngô Tích rẽ đám đông, hỏi người đàn bà:

-  Ông bà có hát những bản nhạc Trung-nguyên do chúng tôi yêu cầu không?

Người chồng lễ phép:

-  Thưa quan viên. Không biết quan viên thích thưởng thức bản ǵ?

-  Tôi muốn nghe bản Xuân dạ yến Trường-giang.

Người chồng ngước đôi mắt mờ nh́n trời không trả lời. Người vợ cúi xuống suy nghĩ. Triệu Huy cười đểu dả:

-  Thôi, không biết hát bản đó, cũng chẳng hề ǵ. Bọn này làm sao biết được những bản cao như thế ? Chúng ta đi nào!

Người chồng cười nhạt:

-  Chúng tôi suy nghĩ trước khi tŕnh bày. Quan khách yêu cầu bản đó, thực là điềm gở. Nên chúng tôi c̣n trù trừ có nên hát không?

Triệu Huy cười khành khạch:

-  Ông không biết hát bản đó tôi chẳng chấp đâu. Không biết th́ nói không biết. Hà cớ ǵ nại ra rằng không tốt, với điềm gở?

Người chồng nói bâng quơ:

-  Tôi nghe giọng nói quư khách, dường như là người Trung-quốc. Trung-quốc ở Bắc, Đại-Việt ở Nam. Thế mà quư khách muốn chúng tôi hát bài của Ngụy-Vơ đế, đem quân Nam chinh. Quư khách có biết rằng bài này do Ngụy-Vơ đế, trước khi vượt Trường-giang đánh Ngô, bầy tiệc rượu, cầm giáo múa dưới trăng rồi sáng tác không? Quư khách có biết rằng sau đó tám mươi vạn quân Tào bị đốt ở Xích-bích không?

Triệu Huy đồ chừng rằng vợ chồng nhà hát không biết nói lảng. Y cương quyết:

-  Gở th́ gở. Xin thử hát xem.

Người chồng bật lên mấy tiếng đàn dài thê lương. Người vợ kéo nhị, cất cao tiếng hát:

Đối tửu đương ca,
Nhân sinh kỷ hà?
Thí như triêu lộ,
Khứ nhật vô đa.
Khái đương dĩ khang,
Ưu tư nan vong,
Hà dĩ giải ưu.
Duy hữu Đỗ Khang.
Thanh thanh tử khâm,
Du du ngă tâm,
Đán vị quân cố,
Trầm ngâm chí kim.
Ao ao lộc minh,
Thực dă chi b́nh,
Ngă hữu gia tân,
Cổ cầm suy sanh.
Hạo hạo như nguyệt,
Hà thời khả chuyết?
Ưu tùng trung lai,
Bất khả đoạn tuyệt.
Vượt mạch, độ thiên,
Uổng dụng tương tồn,
Khế khoát đàm yên,
Tâm niệm cựu du.
Nguyệt minh tinh hy,
Ô thước Nam phi,
Nhiễu thụ tam đáp,
Vô y khả chi.
Sơn bất yếm cao,
Thủy bất yếm thâm,
Chu-công thổ bộ,
Thiên hạ quy tâm.

Bản nhạc dứt. Hai vợ chồng vẫn tiếp tục đàn. Người chồng nói:

-  Mời quư thính giả lắng tai nghe. Kẻ hèn này xin dịch, nếu có chỗ nào khuyết điểm, nhờ cao nhân chỉ dạy cho:

Nâng chén rượu, ta ca một khúc,
Ngẫm đời người mấy chốc ai ơi?
Lăn tăn như hạt sương mai,
Ngày qua, tháng lại, kéo dài được bao?
Làm sao vơi được u sầu.
Giải khuây ta uống một bầu Đỗ Khang.
Nhớ người tà áo xanh xanh.
Ḷng ta khắc khoải, sao đành quên nhau?

Chỉ v́ nhớ bạn, ḷng đau,
Ngày dài trôi măi, mà sầu nào nguôi.
Tiếng nai ảo năo trên đồi,
Ăn đêm trong cánh đồng tươi hoa bèo.
Nhà ta, bạn hữu cười reo,
Cùng nhau tấu nhạc, thổi tiêu gảy đàn.
Đêm nay ngập ánh trăng vàng,
Làm sao ta vẫn bàng hoàng chưa khuây?
Mối lo, canh cánh dạ này,
Biết làm sao để cho ngày trôi qua?
Đường đi vừa khó, vừa xa,
Trăm cay, ngh́n đắng, thế mà c̣n đây.
Vui buồn trong bữa tiệc này,
Nên ḷng nhớ lại những ngày cùng nhau.
Trăng khuya làm ánh sao mờ,
Quạ sang Nam kiếm, đâu ra mặt trời.
Lượn quanh cây lớn ba ṿng,
T́m không chỗ đậu, lại cùng bay cao.
Sơn nguy, thủy tận sợ nào?
Chu-công hiếu khách anh hào về theo.

Bọn Triệu Huy kinh hăi tự nghĩ:

-  Người này dường như mới mù. Chứ y mù từ nhỏ, sao có thể thuộc, hiểu được những bài ca có tŕnh độ cao như thế? Không lẽ đất Việt toàn người giỏi vậy sao?

Y cầm một thoi bạc trao cho người vợ:

-  Xin thù lao hai vị.

Người vợ cầm lấy bạc. Nàng không tỏ vẻ mừng khi Huy cho số bạc quá lớn, chỉ nói nhẹ nhàng như gió thoảng:

-  Đa tạ quan viên.

Người chồng hắng rặng một tiếng, rồi nói:

-  Quư khách thích nghe thơ Ngụy-Vơ, chúng tôi xin hát bài Hành lộ nan. Bài này, Ngụy-Vơ đế làm trên đường chinh Bắc, diệt Viên Thiệu, thống nhất Hán tộc.

Bắc thượng Thái-hằng sơn,
Nan tai hà nguy nguy,
Dương trường phản cất khuất,
Xa luân vi chi tồi.
Thụ mộc hà tiêu sắt.
Bắc thanh phong chính bi,
Hùng bi đối ngă tỗn,
Hổ báo giáp lộ đề.
Khê cốc thiểu nhân dân,
Tuyết lạc hà phân phân.

Người vợ cất cao giọng ngâm lại câu:

Hung bi đối ngă tỗn.
Hổ báo giáp lộ đề.
Tuyết lạc hà phân phân.

Bà vừa hát vừa nháy Bảo-Ḥa.

-  Tiểu cô nương! Tiểu cô nương có hiểu không?

Bảo-Ḥa lắc đầu. Mỹ-Linh giảng:

-  Bài thơ này của Ngụy-Vơ đế tức Tào Tháo. Tào trên đường đi đánh Viên Thiệu đă làm ra. Nghĩa rằng: Phía Bắc có núi Thái-hằng, cao ṿi vọi, đường đi quanh co như ruột dê. Xe cộ lên núi, bánh bị gẫy. Cây cối thực tiêu sơ. Gió Bắc thổi rét căm căm. Gấu ngồi trên hốc đá nh́n xuống. Hổ báo rống bên đường. Trong thung lũng dân chúng thưa thớt. Tuyết rơi phơi phới.

Bảo-Ḥa chợt hiểu ra:

-  Ḿnh chết thực. Th́ ra cặp vợ chồng này là người của Khu-mật viện Đại-Việt. Cậu hai bố trí họ để nhắn ḿnh cái ǵ đây? Đúng rồi. Hai người này rơ ràng nói giọng Thăng-long, chứ đâu có phải tiếng Thanh-Nghệ?

Bảo-Ḥa móc túi lấy bạc tặng vợ chồng nhà hát. Giữa lúc đó có tiếng người dùng lăng không truyền ngữ nói vào tai nàng:

-  Gặp hổ, sai hổ. Gặp báo, sai báo. Hổ, báo không thắng th́ dùng trăn. Đừng hỏi lôi thôi. Cứ đến khu bán thú vật sẽ biết.

Triệu Huy thấy cặp vợ chồng nhà hát kỳ bí. Y thúc Lê Phụng-Hiểu:

-  Chuồn thôi.

Họ tiếp tục đi tới khu bán gia súc. Tiếng trâu rống, tiếng ngựa hí, tiếng lợn kêu, tiếng chó sủa tạo thành âm thanh đặc biệt. Mùi xú uế xông lên nồng nặc, làm Mỹ-Linh choáng váng. Trong khu này, bán khá nhiều thú rừng, nào trĩ, nào công, nào gà rừng. Lại có chỗ bầy bán cả hươu, nai.

Chợt Bảo-Ḥa sáng mắt lên, khi nàng nh́n thấy mấy người thợ săn bán thú dữ. Trước mặt một ông lăo tuổi khoảng sáu mươi, bầy ra ba cái cũi. Cũi thứ nhất trong giam năm đôi trăn lớn. Cũi thứ nh́ giam một đôi báo. Cũi thứ ba giam một đôi hổ. Cạnh đấy c̣n một cái xe, trên có căn nhà nhỏ. Căn nhà không có cửa, mà chỉ có những lỗ bằng trứng gà. Bảo-Ḥa biết đây là tổ nuôi ong mật. Nàng lên tiếng:

-  Cụ ơi, những thú này cụ bán cả ư?

Ông cụ nghe giọng nói, nh́n dáng người Bảo-Ḥa, th́ biết nàng không ở trong tổng. Ông cười:

-  Cô hỏi chơi hay định mua?

-  Cháu định mua đem về nuôi.

Người con trai ông thợ săn, tuổi khoảng hơn hai mươi, cười chế diễu:

-  Cô nói đùa. Cô tưởng mấy con thú này hiền hẳn. Nó mà gầm một tiếng, cô vỡ mật ra chết liền.

Bảo-Ḥa mỉm cười:

-  Nhà tôi không có chó. Tôi định mua về để chơi với chúng cho vui. Ông định giá đi?

Ông già cười:

-  Trời đất ôi, có ai mua thú dữ về nuôi như chó bao giờ? Nếu cô sai bảo được những con thú này, tôi biếu cô đấy. C̣n không th́ một đôi trăn giá hai quan tiền. Đôi báo năm lạng bạc, đôi hổ bẩy lạng.

Thanh-Mai thấy Bảo-Ḥa nháy mắt, th́ biết nàng đang t́m dịp thoát thân. V́ vậy nàng nói với ông thợ săn:

-  Ông giữ lấy lời nghe. Nếu em tôi sai bảo những con thú này được th́ ông phải cho chúng tôi.

Ông lăo thợ săn quả quyết:

-  Quân tử nhất ngôn mà!

Người đi chợ, cùng tất cả đám thợ săn thấy truyện lạ cùng bu lại xem. Bảo-Ḥa tiến đến cũi giam hai con hổ, nàng gầm gừ mấy tiếng nhỏ. Hai con hổ đang nằm ủ rũ trong chuồng, nghe tiếng nàng, chúng đứng nhỏm dậy, vẫy đuôi mừng. Bảo-Ḥa rút then mở cũi, rồi gầm lên mấy tiếng. Hai con hổ nhanh nhẹn chui ra khỏi cũi. Chúng nhảy vào vồ Triệu Huy, Ngô Tích.

Hành động của nàng nhanh quá, đám thợ săn cũng như mọi người không ai ngờ tới. Dân chúng kinh hoàng chạy ra xa đứng nh́n. Ngô Tích, Triệu Huy chuyển thân, liệng hành lư cho Đinh Toàn với Quách Quỳ giữ, rồi xuất chiêu, phục hổ.

Khi thấy Bảo-Ḥa mở cũi hùm, Thanh-Mai ra hiệu cho Mỹ-Linh, rồi phóng chưởng tấn công Triệu Anh. Chỉ một chiêu nàng đă kiềm chế y, bẻ gập cánh tay ra sau. B́nh thường, đấu vơ Thanh-Mai không thể nào chịu của y được đến ba chiêu. Nay y bị trúng độc, khí lực không c̣n, y bị kiềm chế dễ dàng. Mỹ-Linh cũng chụp cổ Đàm An-Ḥa bằng một chiêu cầm-long công. Nàng quay lại t́m Đinh Toàn với Quách Quỳ, không biết hai người trốn đâu mất!

Triệu Huy, Ngô Tích đang dùng hết sức chống nhau với đôi hổ. Bảo-Ḥa lại mở cũi thả đôi báo ra. Nàng hú lên một tiếng, chúng nhảy vào trợ sức với đôi hổ. Anh em Ngô Tích, Triệu Huy quả xứng đáng là đại cao thủ. Mỗi người chống với một cọp một báo, mà không nao núng.

Bảo-Ḥa đứng gầm gừ điều khiển hổ, báo tấn công ráo riết. Nàng chạy lại cũi chứa trăn, mở cũi húyt sáo mấy tiếng. Một đôi trăn vọt ra khỏi cũi, chúng phóng đến cuốn Triệu Anh, Đàm An-Ḥa lại, như người ta dùng dây trói. C̣n bốn đôi khác ngỏng đầu như người đứng, trong tư thế sẵn sàng tấn công anh em Triệu Huy.

Dân chúng náo loạn cả lên. Tuy vậy họ vẫn không chạy, mà đứng thành ṿng tṛn xem ba cô gái lạ, mặt đẹp như tiên, có tài sai hổ, báo, trăn tấn công người. Trống báo động thúc liên hồi.

Ông lư đă cùng một đội hoàng-nam xuất hiện, đao kiếm sáng ngời, làm thành ṿng vây xung quanh đấu trường, đề pḥng thú dữ.

Chiến đấu được một lúc, Ngô Tích mệt muốn đứt hơi. Y nh́n sang bên cạnh, chiêu thức Triệu Huy đă rời rạc. Y nghĩ:

-  T́nh thế này, chi bằng hăy tạm bỏ chạy. Đại ca ta là Thiên-sứ, chắc bọn chúng không dám hại. Ta cần t́m B́nh-nam vương, để người can thiệp với vua Giao-chỉ bắt chúng tha đại ca ra.

Nghĩ vậy y hú lên một tiếng, báo hiệu cho Triệu Huy bỏ chạy. Hai người cùng vận hết sức phát liền mấy chưởng, b́nh, b́nh. Hổ báo bị đẩy lui . Hai người vọt ḿnh vào đám dân chúng trốn. Nhưng nhanh hơn, Bảo-Ḥa huưt sáo mấy tiếng, tám con trăn phóng tới quấn hai người vào giữa.

Hai người càng vùng vẫy, trăn cuốn càng chặt.

Thanh-Mai mừng quá, nàng lấy mấy sợi dây của thợ săn trói bọn chúng lại. Bảo-Ḥa bị trúng độc, thân thể ră rời. Sau trận đấu, nàng choáng váng, ngồi xuống đất dựa lưng vào một con hổ dưỡng thần. Một con khác đến nằm cạnh. Hai con báo liếm tay nàng tỏ vẻ thân ái. Bảo-Ḥa ôm lấy cổ chúng như ôm những con chó.

Mỹ-Linh đến bên hỏi:

-  Chị Bảo-Ḥa, có sao không?

-  Không sao cả. Em yên tâm.

Nói xong nàng gượng gạo vẫy tay gọi bố con ông thợ săn. Hai bố con ông cùng hơn mười người thợ săn khác không dám lại gần. Họ quỳ gối ở xa, lạy thụp xuống đất. Đối với thợ săn, thú rừng là những con vật linh thiêng, phải có thần tiên mới sai khiến được chúng. Họ thấy Bảo-Ḥa sai thú của họ như họ sai chó. Nàng lại trang phục như người Thái, hơi khác lạ với người Kinh. Bảo-Ḥa mỉm cười nói với ông thợ săn:

-  Cụ giữ lời, hứa cho tôi mấy con thú này nghe.

Hai bố con ông thợ săn quỳ gối chắp tay lạy Bảo-Ḥa liên tiếp:

-  Tấu lạy tiên cô. Cô là người nhà trời, cô sai khiến đươc hổ báo. Con xin kính dâng cô hết.

Bảo-Ḥa là con một lạc-hầu vùng bắc-biên Việt-Tống. Mẫu thân nàng hiện làm vua bà 207 khê động. Khi sinh ra đời được mười ngày, mẫu thân nàng bị cảm, rồi mất sữa. Với địa vị một vua bà, th́ kiếm cho con một bà vú thực không khó. Nhưng mẹ nàng là người sùng đạo Phật, không muốn con ḿnh bú người, mà con người không được bú mẹ, như vậy sinh ra nghiệp quả. Sẵn trong châu nuôi nhiều hổ, báo, thân phụ nàng nặn sữa hổ, báo nuôi nàng.

Khi đă lên bốn, lên năm, nàng vẫn c̣n ăn sữa. Một lần theo anh vào rừng chơi, chẳng may đi lạc. Bố mẹ nàng kinh hăi, xuất lĩnh trên trăm người đi t́m suốt hai ngày không thấy đâu. Mọi người cho rằng nàng bị thú dữ ăn thịt rồi. Bốn hôm sau một tóan thợ săn t́m thấy Bảo-Ḥa đang ở trong hang cọp. Suốt mấy ngày nàng bú cọp, sống với bầy cọp con. Không ai hiểu tại sao cọp mẹ không ăn thịt nàng. Cuối cùng một người thợ săn cho biết rằng khi trẻ con uống sữa thú rừng lâu ngày tự nhiên trong người tiết ra mùi hương đặc biệt thoang thỏang như hoa lan rừng. Phàm thú dữ ngửi thấy mùi hương đó, th́ không ăn thịt. Ngược lại c̣n phục tùng, trung thành như chó đối với chủ. Từ đấy dân chúng Bắc- biên coi nàng như công chúa con Ngọc-Ḥang thượng đế giáng sinh, gọi nàng bằng cô. Nàng cũng xưng cô với họ, riết rồi thành quen.

Bảo-Ḥa cũng như các đệ tử Tây-vu khác, được dạy tiếng nói của thú rừng, hầu sai khiến, chỉ huy như chỉ huy binh đội. Hôm nay, giữa lúc chị em lo sợ rằng sau khi chữa khỏi bệnh cho Triệu Anh, chắc chắn bọn chúng sẽ giết chết chị em nàng để phi tang... th́ gặp bọn thợ săn bán thú rừng. Nàng dùng bản lĩnh Tây-vu, sai thú tấn công bọn chúng, mà thành công.

Bảo-Ḥa mỉm cười:

-  Không, cô không nhận của ông đâu. Đây cô trả tiền cho.

Nàng trả cho ông số bạc gấp đôi lần ông ra giá. Nàng nói:

-  Ông mua cho mỗi con trăn một con gà. Mỗi cặp hổ, báo một đùi thịt trâu, bỏ vào cũi cho chúng ăn.

Khi bọn Triệu Anh đi rồi, trong ḷng ông lư khả nghi. Ông sai một hoàng nam theo dơi hành tung của bọn chúng. Hoàng nam vừa đi, đă chạy về báo cho ông hay về cuộc giao chiến của chị em Thanh-Mai với bọn Triệu Huy. Ông ra lệnh đánh trống Ngũ-liên báo động, rồi dẫn đội hoàng nam đến đấu trường. Dân chúng có mặt kể cho ông nghe từ đầu đến cuối diễn tiến trận đấu. Ông đến nơi đúng lúc Thanh-Mai, Mỹ-Linh bắt Đàm An-Ḥa, Triệu Anh. Trong ḷng ông kinh hoàng, tự hỏi:

-  Mấy cô gái này là ai, đang đi cùng Đàm hiệu úy, với Thiên-sứ, rồi lại sai hổ, báo, trăn bắt sống họ?

Bảo-Ḥa vẫy tay gọi ông lư:

-  Cụ lư. Mời cụ lại đây, tôi có truyện muốn nói với cụ.

Tiếng nói của nàng thanh tao, mà oai lạ lùng. Ông lư chắp tay:

-  Tấu lạy tiên cô. Con muốn lại, nhưng... những ông kễnh này ghê quá. Con không dám.

Bảo-Ḥa mỉm cười:

-  Ông đừng sợ, những con chó, con mèo này hiền lắm. Nó không nhá thịt ông đâu. Thôi, ông sợ th́ thôi. Phụng-Hiểu, anh lại đây.

Lê Phụng-Hiểu rất can đảm. Chàng hiên ngang tiến tới. Bảo-Ḥa nói sẽ:

-  Anh có biết cô là ai không?

-  Tấu lạy cô không.

-  Cô là con vua bà coi 207 châu động vùng biên giới bắc Đại-Việt. Bọn người Tầu này mưu hại cô. Cô ra lệnh cho hổ, báo bắt chúng. Vậy anh hăy sai hoàng-nam đóng kín cổng làng t́m cho được hai tên đồng bọn đang trốn đâu đó.

Một con báo liếm tay Phụng-Hiểu. Tuy chàng biết nó không cắn ḿnh, mà chân tay cũng run run, người phát lạnh. Tiếng nói uy nghiêm của Bảo-Ḥa khiến chàng không tự chủ được. Chàng lui lại gọi bốn đội trưởng hoàng-nam ra lệnh, t́m bắt Đinh Toàn, Quách Quỳ.

Thấy Lê Phụng-Hiểu dám lại bên Bảo-Ḥa, ông lư làm gan, ông đến gần chắp tay lạy:

-  Tấu lạy cô, xin cô ban lệnh.

Bảo-Ḥa rút lệnh bài của mẹ, trao cho ông lư:

-  Ông cho người phi ngựa về đinh tiết-độ-sứ Đinh Ngô-Thương, nói rằng cô đă bắt được bọn gian nhân. Đinh phải cho đạo binh Quảng-thánh tới giải tù nhân về.

Một người cụt tay, tuổi khỏang ba mươi rẽ đám đông đi ra. Ông lư chỉ người đó giới thiệu:

-  Đây ông tiên chỉ làng Vạn-thảo.

Bảo-Ḥa kinh ngạc không ít, v́ xưa nay tiên chỉ phải là người già, đạo cao, đức trọng. Không ngờ tiên chỉ Vạn-thảo lại c̣n quá trẻ. Nh́n dáng điệu, khuôn mặt của ông tiên chỉ rất quen, mà nàng không nhớ đă gặp ở đâu. Người cụt tay cúi đầu chào Bảo-Ḥa:

-  Hoàng-triều thiên tướng Quách Thịnh xin kính cẩn ra mắt cô nương. Chẳng hay cô nương từ đâu gía lâm tệ xă?

Bảo-Ḥa nghe đến tên Quách Thịnh, nàng á lên một tiếng, mừng rỡ:

-  Quách tướng quân quên cô rồi sao? Cách đây năm năm, tướng quân theo cậu hai của cô là Dực-thánh vương, đem quân giúp mạ mạ đánh bọn Tầu-ô Đại Quang-Lịch, đốt trại Như-hồng trên đất Tống. Sau đó tướng quân bị thương ở tay. Mạ mạ đem về nhà dưỡng thương hơn tháng mới khỏi. Lúc ấy cô thường gọi hùm, gọi báo đến chơi đùa với tướng quân. Sau trận đó, ông ngọai thương xót, phong cho tướng quân tước Trung-thành hầu, ăn lộc một ngh́n hộ.

Người cụt tay đă nhận ra Bảo-Ḥa:

-  Th́ ra quận chúa. Tiểu tướng thực vô tâm. Cũng tại quận chúa mau lớn qúa, tiểu-tướng nhận không ra. Thấm thoát đă trên năm năm. Bây giờ quận chúa xinh đẹp như thế này rồi. Tiểu tướng xin ra mắt quận chúa.

Bảo-Ḥa chỉ Mỹ-Linh:

-  B́nh-Dương là con gái lớn cậu cả đấy.

Quách Thịnh chắp tay:

-  Thần Trung-thành hầu xin tham kiến công chúa điện hạ.

Quách Thịnh gọi ông lư:

-  Mau đánh trống rước công chúa, quận chúa về đ́nh.

Quách Thịnh đến bên Bảo-Ḥa:

-  Từ sau khi được hoàng thượng phong cho tước hầu. Tiểu nhân trở về làng cũ lấy vợ, được dân chúng tôn làm tiên chỉ. Tuy ở thôn dă, tiểu nhân cũng vẫn lấy việc dạy dỗ lớp sau, hầu khi quốc gia hữu sự, cho chúng ra giúp nước.

Dân làng đă đem đến ba cái kiệu để rước chị em Thanh-Mai. Bảo-Ḥa xua tay:

-  Cô không đi kiệu đâu. Chị Thanh-Mai cỡi ngựa. Mỹ-Linh đi kiệu. Cô cỡi hùm được rồi.

Bảo-Ḥa nói với đám thợ săn:

-  Các ông chở mấy cái cũi trăn này theo cô. C̣n mấy con chó, con mèo của cô th́ không cần.

Nàng nhảy lên lưng cọp, hô một tiếng, nó rảo bước theo sau kiệu Mỹ-Linh. Con hùm c̣n lại, cùng hai con báo đi cạnh nàng.

 

Hết Hồi 19