Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

THUẬN THIÊN DI SỬ

B̀A

 

Quyển I

Quyển II

Quyển III

 

In ra

Xin đọc bộ Anh Hùng Tiêu Sơn
trước khi đọc bộ Thuận-Thiên Di Sử

www.thuvienvietnam.com - www.tvvn.org
độc quyền đưa lên Internet


Thư viện ViệtNam tại California Hoa-kỳ tái bản
Tác giả giữ bản quyền.
Copyright @ Trần Đại-Sỹ
All right reserved.



Trước khi vào đề
Đôi lời về đạo pháp thế kỷ thứ 10-11


Quư độc giả đă đọc chín trăm trang, bộ Anh-hùng Tiêu-sơn, giai đoạn một, mang tên Thầy Tăng Mở Nước. Danh từ Thầy Tăng Mở Nước xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ mười một. Các sử gia tranh luận bao năm về vấn đề: Thầy Tăng đó chỉ vào ai? Ngài La Quư-An? Ngài Vạn-Hạnh? Ngài Lư Khánh-Vân hay Ngài Bố-Đại? Như quư độc giả thấy, tất cả các Ngài, chứ không phải một Ngài.

Cho đến nay, không ai xác nhận danh tự ấy chỉ vào vị nào! Sự thực bấy giờ các tăng sĩ đều quan niệm Đạo pháp, dân tộc là một. Cũng như mới đây, hoàn cảnh đất nước, đă khiến linh mục Lương Kim-Định nêu ra: Linh-mục phải một vai vác Thánh Giá, một vai gánh Non Sông. C̣n hầu hết các tăng ni, dù gịng nào, dù chi nào, dù phái nào, cũng ngửa mặt nh́n về thời đại Tiêu-sơn, suy ngẫm hành sự sao cho đúng với tinh thần Đạo Pháp - Dân Tộc là một.

Giai đoạn thứ nh́ của bộ Anh-hùng Tiêu-sơn mang tên Thuận-Thiên di sử. Thuận-Thiên là niên hiệu của vua Lư Thái-Tổ. Ngài sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp-Tuất (8-3-974). Nhằm niên hiệu năm thứ năm đời vua Đinh. Băng hà ngày 3 tháng 3 năm Mậu-Th́n (31-03-1028). Nhằm niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười chín.

Tuy vua Lư Thái-Tổ lên ngôi vua ngày 12 tháng mười năm Kỷ-Dậu (1009) nhưng theo truyền thống, cho đến hết năm đó, Ngài vẫn dùng niên hiệu Cảnh-thụy thứ nh́ của vua Lê ngọa triều.

Năm sau ngày 1 tháng giêng năm Canh-Tuất (1010), Ngài mới đặt niên hiệu Thuận-Thiên. Ngài băng hà tháng ba năm Mậu-Th́n (1028). Như vậy thời gian Thuận-Thiên gồm mười chín năm.

Thời gian Thuận-Thiên được ca tụng như những năm tháng thanh b́nh, hạnh phúc nhất trong lịch sử tộc Việt. Thế nhưng những người nghiên cứu sử Hoa-Việt, đều không ít th́ nhiều đặt các nghi vấn như sau:

-   Đầu triều Tống, Nho học chưa mấy thịnh. Thế mà khi Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh. Tống Thái-Tông hùng hổ sai Hầu Nhân-Bảo, Tôn Toàn-Hưng, Triệu Phụng-Huân, Quách Quân-Bảo... đem mấy chục vạn quân sang đánh, nêu lư do diệt kẻ thoán vị, cướp ngôi vua của ấu quân, khi chúa qua đời. Thế mà giữa đời Tống, Nho học cực thịnh. Triết lư trung quân đề cao, tại sao Lư Công-Uẩm cướp ngôi của nhà Lê, vua tôi nhà Tống lờ đi, hơn nữa c̣n sai sứ sang phong chức tước cho nữa? Có thực Tống tử tế như thế không? Hay v́ dư oai trận Bạch-đằng chưa hết? Hoặc v́ lư do nào khác? Thưa sự thực v́ø Lư Công-Uẩn là pḥ mă của vua Lê Đại-Hành. Nho-giáo hết sức đề cao việc vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, v́ vua Thuấn là người hiền, hơn nữa Ngài được vua Nghiêu gả hai công chúa là Nga-Hoàng và Nữ-Anh cho. Nay Lư Công-Uẩn cũng là người hiền, cũng là pḥ mă!

-   Tống, Việt, ngăn cách nhau bằng khu núi rừng, mang tên Bắc-biên. Nơi đó có 207 bộ tộc sống như những nước nhỏ. Khi Tống mạnh, theo Tống. Khi Việt mạnh theo Việt. Triều đ́nh cũng như biên thần nhà Tống hết sức dành dân, lấn đất. Thuận-Thiên hoàng đế cùng anh hùng thời đó làm cách nào giữ được, cho đến nay vẫn thuộc Việt?

-   Hồi Lê-Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp, đem quân chống lại, gây cảnh tương tàn. Lại c̣n Ngô Nhật-Khánh mượn quân Chiêm về đánh phía Nam. Thế sao khi Lư Công-Uẩn cướp ngôi vua, bấy giờ chỉ giữ chức vụ khiêm tốn Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Tức coi hệ thống bảo vệ vua Lê. Vậy các quan trấn ở ngoài, cũng như trong triều đâu, mà không chống trả? Nguyên do nào?

-   Vua Lư Thái-Tổ, đă cai trị dân như thế nào, mà các sử gia sau này ca tụng công đức đến không tiếc lời?

-   Sử nói rằng, thời đại Tiêu-sơn, là thời đại cực thịnh của Phật-giáo. Thế nhưng một người Việt không rơ tên họ, cùng Lưu Trí-Viễn mang một thứ tôn giáo ở bộ lạc Sa-đà về Trung-quốc. Rồi từ đó lập ra triều Hán (Thời Lục-triều). Sau ông ta trở về Đại-Việt tranh dành ngôi vua, gây thành cảnh núi xương sông máu thời mười hai sứ quân. Hành trạng của ông ta ra sao?

Xin độc giả theo dơi trong chín trăm trang, bộ Anh-hùng Tiêu-sơn, giai đoạn hai, mang tên Thuận-Thiên di sử.


NIÊN BIỂU THUẬN-THIÊN

Các sự kiện niên biểu này, chúng tôi theo bộ Việt Sử Lược, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tống Sử và bộ Hoàng Việt Giáp Tư Niên Biểu

009. Kỷ-Dậu.
Đại-Việt, Lê Long-Đĩnh, Cảnh-thụy, năm 2.

- Nhà vua đi Ái-châu. Thân chinh Đô-lương, Án-động, Thiên-liễu, châu Hoan. Tháng 10 âl. Lê Long-Đĩnh băng. Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Lư-công-Uẩn được triều thần tôn lên làm vua.
- Đại xá cho tù trên toàn quốc. Phàm người thành án hay chưa, cùng tất cả các vụ tranh tụng đều xóa bỏ.
- Cho phép ai có việc tranh tụng, được đến triều đ́nh tâu bầy. Vua thân xử.
- Truy tôn cha làm Hiển-Khánh vương. Mẹ họ Phạm làm thái hậu Minh-Đức.
- Lập vợ chánh là Công-chúa con vua Lê làm hoàng hậu, lập sáu bà phi. Phân biệt y phục, xe cộ giữa chánh hậu và cá bà khác.
- Lập con trai là Phật-Mă làm thái tử.
- Phong hầu cho con trai, phong công chúa cho 13 con gái.
- Phong anh, chú tước vương. Cháu, anh em con chú chức thái úy, tổng quản.
- Phong Đào Cam-Mộc tước Trung-nghĩa hầu, gả công chúa An-Quốc cho.
- Phong con gái thứ nh́ làm Lĩnh-Nam bảo quốc hoà dân công chúa, gả cho con trai Thân Thiệu-Anh là Thân Thừa-Quư.
Trung-quốc, Tống Chân-tông, Đại-trung tường phù, năm 2.
- Biên thần phía Nam thượng biểu tâu kế sách chiếm Đại-Việt. Vua giao cho Khu-mật viện nghiên cứu.
Đại-lư, Đoàn Tố-Liêm lên ngôi vua. Phong cho em là Đoàn Huy làm Trấn-Nam vương, phụ quốc thái úy, tổng đốc binh mă.

1010. Canh-Tuất.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên nguyên niên.

- Đổi niên hiệu là Thuận-Thiên.
- Tháng 2 âl. nhà vua về cố hương, thuộc châu Cổ-pháp. Ban tiền, lụa cho các bậc kỳ lăo. Yết lăng thái hậu. Đo mấy dặm đất làm Sơn-lăng.
- Sai viện ngoại lang Lương Nhậm-Văn, Lê Tái-Nghiêm sang sứ Tống kết hiếu.
- Tháng 7 âl. Dời đô từ Hoa-lư đến Đại-la. Khi thuyền sắp tới, thấy con rồng vàng bay trên thành Đại-la, đổi tên là Thăng-long.
- Đổi châu Cổ-pháp thành phủ Thiên-đức. Thành Hoa-lư thành phủ Trường-yên. Sông Bắc-giang thành sông Thiên-đức.
- Xây dựng kinh đô Thăng-long:
-   Xây điện Càn-nguyên làm nơi thiết triều. Hai bên điện Càn-nguyên có điện Tập-hiền, Giảng-vơ.
-   Mở cửa Phi-long thông với cung Nghinh-xuân. Cửa Đan-phụng thông với cửa Uy-viễn.
-   Xây điện Long-an, Long-thụy làm nơi nhà vua an nghỉ.
-   Dựng cung Thúy-hoa, cho phi tần ở.
-   Lập kho đạn, xây thành, đào hào.
-   Mở bốn cửa thành Tường-phù, Quảng-đức, Đại-hưng, và Diệu-Đức.
- Phát hơn hai vạn quan tiền, để dựng tám cảnh chùa, lập bia ghi công đức. Sử không ghi rơ tên. Trong thành Thăng-long dựng các chùa Hưng-thiên, Thái-thanh, Vạn-tuế. Ngoài thành có các chùa Thắng-nghiêm, Thiên-vương, Cẩm-uy, Long-hưng, Thánh-thọ, Thiên-quang, Thiên-đức.
- Các chùa trong nước bị đổ nát, đều cho tu bổ.
- Xá thuế ba năm cho cả nước. Xá bỏ thuế c̣n thiếu cho cả nước.
- Phát quần áo cho tù binh Tống bị bắt cuối đời Lê, tha cho về.
- Đổi mười đạo làm làm 12 lộ, đổi Ái-châu, Hoan-châu làm trại.
- Độ dân làm sư. Phát 1680 lượng bạc, lấy trong kho đúc chuông lớn treo ở chùa Đại-giáo.
- Sứ Tống sang phong cho nhà vua làm: Kiểm hiệu thái phó. Tĩnh hải tiết độ sứ, quan-sát-sứ, xử-trí-xứ. An-nam đô hộ phủ. Ngự-sử đại phu. Thượng-trụ quốc, Giao-chỉ quận vương. Thực ấp tam thiên (3000), thực phong nhất thiên (1000). Suy thành thuận-hoá công thần. Cuối năm thêm: Đồng b́nh chương sự, thực ấp thiên hộ (1000) thực phong tứ bách hộ (400).
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Đại-trung tường phù năm 3.
- Khu-mật viện dâng biểu nên phủ dụ triều Lư, không nên đánh ngay.
Cao-ly, Hiển-vương Nguyên-văn vương đời thứ tám lên ngôi.

1011, Tân-Hợi.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 2.

- Đặt hoàng cung vệ sĩ gồm hai đội tả, hữu, mỗi đội 500 người.
-Nhà vua tự làm tướng đánh giặc Cử-long ở Thanh-hoá.
- Tháng 4 âl. Dựng điện Hàm-quang ở bên sông Phú-lương.
- Đổi phủ Ứng-thiên làm Nam-kinh.
- Sai viện ngoại lang Lư Nhân-Nghĩa, Đào Khánh-Văn sang sứ Tống đáp lễ thụ phong. Khánh-Văn trốn ở lại nước Tống. Tống bắt trao trả, xử tội đánh chết bằng trượng.
Trung-quốc, Tống Chân-tông, Đại-trung tường phù, năm 4.
- Ba động Như-an, Ngân-giang thuộc Tống, theo về Đại-Việt.

1012 Nhâm-Tư.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ Thuận-Thiên năm 3.

- Phong Thái-tử Phật-Mă làm Khai-Thiên vương. Dựng cung Long-Đức ngoài thành cho ở, để am hiểu dân t́nh.
- Tháng 7 âl. nhà vua xem bơi trải ở sông Phú-lương. Từ đấy việc thi bơi trải trở thành lệ.
- Tháng chạp âl.(1013) sứ Chân-lạp sang cống. Nhà vua cầm quân đánh giặc ở Diễn-châu.
- Sứ Tống sang gia phong cho nhà vua: Khai-phủ nghị đồng tam ty. Dực đới công thần. Thực ấp thất bá hộ (700) thực phong tam bá hộ (300).
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Đại-trung tường phù, năm 5.
Nhật-bản, Thiên-hoàng thứ 67 của Nhật-bản lên ngôi, kiến nguyên là Trường-hoà.


1013 Quư-Sửu.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 4.

- Quy định thuế khoá gồm sáu loại. (1) Thuề đầm ao, ruộng đất. (2) Thuế tiền và thuế băi dâu. (3) Thuế lâm sản. (4) Thuế mắm muổi. (5) Thuế sừng tê, ngà voi, hương liệu. (6) Thuế hoa quả, gỗ. Đặt rơ lệ ngạch cho vương hầu, công chúa quản lĩnh.
- Tháng 6 âl. Phong thái tử thứ nh́ Lư-Long-Bồ tước Khai-Quốc vương, truyền trấn thủ Trường-yên.
- Tháng 1O âl. Châu mục Vị-long là Hà Trắc-Tuấn nổi dậy. Ư muốn theo Tống. Nhà vua cầm quân đánh. Trắc-Tuấn bỏ chạy.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Đại-trung Tường-phù, năm 6.
- Biên thần Tống xúi Hà Trắc-Tuấn chống triều đ́nh. Khi Trắc-Tuấn thua chạy, Tống không dám cứu viện.

1014 Giáp-Dần.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên năm 5.

- Tháng giêng âl. Hạc Thác ở ngoài biên giới Bắc vào cướp. Dực-Thánh vương đem quân đánh, dẹp được.
- Tháng 9 âl. Phát 310 lựơng bạc đúc chuông treo ở chùa Hưng-thiện.
- Sứ Chân-lập sang cống.
- Sứ Tống sang gia phong: Bảo-tiết thủ chính công thần. Thực ấp thiên hộ (1000) thực phong tứ bá hộ (400).
- Sai Phùng Chân, Lư Thạc đi sứ Tống báo chiến thắng Hạc Thác, cống 200 ngựa
- Đắp đất quanh thành Thăng-long. Phát 800 lượng bạc trong kho đúc lại hai quả chuông lớn treo ở chùa Thắng-nghiêm và lầu Ngũ-phương.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Đại-trung Tường-phù, năm 7.
- Vua tuyển văn thần có khả năng binh sự, trấn Quảng-Đông, Quảng-Tây-lộ.

1015 Ất-Măo.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 6.

- Hà Trắc-Tuấn được tế tác Tống giúp, lại nổi dậy. Dực-Thánh vương, Vũ-Đức vương đem quân đánh, bắt được, bêu đầu ở cửa Đông thành.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Đại-trung Tường-phù, năm 8.
- Vợ, con Trắc-Tuấn chạy sang Tống xin lưu ngụ. Pḥ mă Thân Thừa-Quư đ̣i. Biên thần Tống chịu trả. Tha cho vợ con Trắc-Tuấn.

1016 Bính-Th́n.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 7.

- Lập ba bà hoàng hậu: Tá-quốc, Lập-nguyên, Lập-giáo.
- Tháng 12 (1017) sứ nhà Tống sang gia phong: Nam-b́nh vương, thực ấp thiên hộ (1000), thực phong tứ bá hộ (400).
- Được mùa khắp nơi. Lúa gạo rẻ.
- Tha tô thuế ba năm cho cả nước.
Tống, Tống Chân-Tông, Đại-trung tường phù, năm 9.
- Biên thần tấu về Đại-Việt được mùa, mà lại tha thuế ba năm. Nhà vua kinh ngạc.

1017 Đinh-Tỵ.
Đại-Việt, Tống Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 8.

- Lại xuống chiếu tha thuế tô ruộng cho cả nước.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Đại-trung Tường-phù, năm 10.
- Đô đốc vùng Mân-Quảng thượng biểu về việc nhiều tế tác ngoại quốc nhập lănh hải Tống. Ư chỉ Đại-Việt. Vua cho rằng vô căn cứ.
Nhật-bản, Thiên-hoàng Hậu Nhất Điền nguyên niên. Vị Thiên-hoàng thứ 68 của Nhật-bản, kiến nguyên Khoan-Nhân.

1018 Mậu-Ngọ.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 9.

- Tháng 6 âl. sai Nguyễn Đạo-Thành, Phạm Hạc đi sứ Tống xin kinh Phật.
- Tháng 10 âl. Tha một nửa tô thuế cho cả nước.
- Phong thái tử Lực làm Đông-Chinh vương.
- Sứ Tống sang gia phong: Kiểm-hiệu thái úy, thực ấp thiên hộ (1000), thực phong tứ bá hộ (400).
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Thiên-Hy nguyên niên.
- Tể tướng Vương Đán chết. Vương Khâm-Nhược lên thay.
Đại-lư, Đoàn-Tố-Long lên ngôi.

1019 Kỷ-Mùi.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 10.

- Tháng giêng âl. phổ độ dân trong nước làm sư.
- Dựng nhà Thái-miếu ở lăng Thiên-đức.
- Xuất vàng, bạc đúc chuông lớn ở chùa Hưng-thiện, Đại-giáo, Thắng-nghiêm.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Thiên-Hy , năm 2.
- Nhà vua bệnh nặng.

1020 Canh-Thân.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 11.

- Tháng chạp âl. nhà vua sai Khai-Thiên vương đánh Chiêm-thành.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Thiên-Hy, năm 3.
- Biên thần lưỡng Quảng mật tấu về t́nh h́nh Đại-Việt, nói rơ Đại-Việt khống chế Chiêm-thành, Chân-lạp, Lăo-qua, Xiêm-la.

1021 Tân-Dậu.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 12.

- Đặt ngày sinh nhật của vua làm tiết Thiên-thánh. Sai kết trúc làm núi gọi là Vạn-thọ Nam-sơn ở cửa Quảng-phúc. Trên núi làm h́nh chim bay, thú chạy, nhiều vẻ kỳ lạ. Ban yến cho bầy tôi mua vui.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Thiên-Hy, năm 4.
- Vua bệnh nặng.

1022 Nhâm-Tuất.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 13.

- Tháng 2 âl. băi bỏ kết trúc mừng lễ sinh nhật vua, v́ sợ nhọc sức dân.
- Đại Nguyên-Lịch trên đất Tống quấy nhiễu biên cương. Vua sai Dực-Thánh vương đem quân đi đánh dẹp. Quân Việt tràn sang trại Như-hồng, thiêu đốt kho đụm của họ, rồi rút về.
- Đổi tên trấn Triều-dương thành châu Vĩnh-an.
- Sứ Tống sang gia phong: Kiểm hiệu thái-sư.
Trung-quốc, Tống Chân-Tông, Càn-hưng nguyên niên.
- Cải niên thành Càn-hưng. Vua băng, Thái-tử lên nối ngôi, lại di chiếu cho Lưu hoàng hậu quản trị việc nước.

1023 Quư-Hợi.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 14.

- Sai Lư Khoa-Thái, Nguyễn Thủ-Cường đi sứ Tống, mừng Nhân-Tông lên ngôi.
Trung-quốc, Tống Nhân-Tông, Thiên-thánh nguyên niên.
- Lưu hậu biếm danh sĩ Khấu Chuẩn ba lần. Chuẩn buồn, rồi chết.
- Phong chú, cũng là thầy dạy của vua là Cung-huệ vương Nguyên-Nghiễm làm Thái-uư, Thượng-thư lệnh kiêm Trung-thư lệnh. Khi lâm triều khỏi xưng tên, được đeo kiếm khi chầu vua.

1024 Giáp-Tư.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 15.

- Mùa Xuân, sai Khai-Thiên vương đánh châu Phong. Khai-Quốc vương đánh Đô-Kim.
- Sửa sang kinh thành Thăng-long.
- Tháng chín âl. dựng chùa Chân-giáo ở Thăng-long.
- Vua nghe lời dèm của cung nga, thái giám hầu hoàng hậu Tá-Quốc phao Khai-Quốc vương phản. Đang đêm cùng Khai-Thiên vương đem quân tập kích Trường-yên. Bị thất bại. Tướng chỉ huy quân là Mai Hựu bị sùng ban lang tướng Ngô An-Ngữ thuộc phủ Khai-Quốc bắt sống. Khai-Quốc vương mời vua vào thành.
- Khám phá ra lời vu cáo, giết 5 cung nga, 6 thái giám hầu hoàng hậu Tá-quốc. Phong Khai-Quốc vương làm phụ quốc thái úy, quản Khu-mật viện, tổng đốc binh mà toàn quốc kiêm trấn thủ từ Trường-yên đến Chiêm-thành.
- Lệnh tuyển 200 mỹ nữ, gả cho các thân vương, thái tử. Đàm Thụy-Châu được phong quư phi.
Trung-quốc, Tống Nhân-Tông, Thiên-Thánh, năm 2.
- Lưu hậu lại đầy tể thần. Xung đột giữa Lưu hậu và Định-vương Nguyên-Nghiễm.

1025 Ất-Sửu.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 16.

- Theo đề nghị của Khai-Quốc vương. Vua cho cải cách lớn về binh bị.
- Em của quư phi Thụy-Châu là Đàm Toái-Trạng được phong Tuyên-vũ sứ Thanh-hoá.
Trung-quốc, Tống Nhân-Tông, Thiên-Thánh, năm 3.
- Thi vơ ở Biện-kinh, chọn 36 người đậu, cho làm tướng.

1026 Bính-Dần.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 17.

- Sai Lư Trưng-Hiển, Lê Tái-Nghiêm sang sứ Tống.
- Lại tuyển mỹ nhân tiến cung.
- Tháng giêng âl. Sửa Ngọc-điệp (gia phả) nhà vua.
- Tháng 11 âl. sai Khai-Thiên vương đánh Diễn-châu.
Trung-quốc, Tống Nhân-Tông, Thiên-Thánh, năm 4.
- Vua đă lớn, có ư muốn cầm quyền, mở rộng biên cương phía Nam. Trọng dụng chú là Nguyên-Nghiễm.
Đại-lư, Đoàn-Tố-Trinh lên nối ngôi.

1027 Đinh-Măo.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên năm 17.

- Tháng 7 âl. sai Khai-Thiên vương đánh châu Thất-Nguyên. Đông-Chinh vương Lực đánh Văn-châu.
- Tháng 8 âl. đại hội anh hùng ở Thăng-long.
- Tháng 9 âl. Khai-Quốc vương kết hiếu với các nước Chiêm-thành, Chân-lạp, Xiêm-la, Đại-lư.

1028 Mậu-Th́n.
Đại-Việt, Lư Thái-Tổ, Thuận-Thiên, năm 18.

-   Tháng 1, Khai-Quốc vương đi sứ Tống.
- Ngày 3 tháng 3 (31-03-1928) vua băng.
- Dực-Thánh vương, Đông-chinh vương, Vũ-Đức vương nổi loạn. Khai-Quốc vương từ Tống về dẹp yên. Vũ-Đức vương chết tại trận.
- Khai-Thiên vương lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên-Thành.
- Đặt lệ bầy tôi họp ở miếu Đồng-cổ. Ai vắng mặt bị đánh 50 trượng.
- Lập bẩy bà hoàng hậu.
- Phong cho Mai Hựu, Đinh Ngô-Thương, Vương Đỗ, cha các bà hậu làm thượng tướng.
-Đặt 10 vệ cấm quân, chia làm tả, hữu, để hộ vệ.
- Sứ Tống sang truy phong vua Lư Thái-Tổ làm Thị-trung Nam-Việt vương.

Trung-quốc, Tống Nhân-Tông, Thiên-Thánh, năm 6.
- Nghe Đại-Việt rối loạn, biên thần tấu về xin mang quân đánh. Thái-sư Nguyên-Nghiễm cực lực bài bác.