Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

NAM QUỐC SƠN HÀ

Hồi 15

 

Quyển I

Quyển II

Quyển III

Quyển IV

Quyển V

 

In ra

 HỒI THỨ MƯỜI LĂM

Kế Hoạch Ngũ Lôi

Nhà vua ban chỉ dụ:

– Bây giờ ta trở lại việc triều Tống. Như ban năy bàn, th́ phe của hậu là phe thân với Đại-Việt, và chủ ḥa. Bây giờ khanh hăy tŕnh bầy về cái kế hoạch Ngũ-lôi của Tống ra sao một lượt nữa để Ỷ-Lan với các tân quan nắm vững.

– Tâu phu nhân.

Thường-Kiệt hướng Ỷ-Lan nói bằng giọng ôn nhu: Ngũ là năm, lôi là sấm. Tống dùng năm đạo binh để chuẩn bị mở rộng Nam thùy. Trong sáu nước Nam thùy gồm Đại-Việt, Chiêm-thành, Chân-lạp, Lăo-qua, Xiêm-la, Đại-lư th́ Đại-Việt mạnh nhất. Chính Quốc-phụ đă đưa ra đường lối liên hiệp giữa sáu nước tộc Việt, mà Đại-Việt là minh chủ. Bằng như Tống mang quân đánh một trong sáu nước, th́ cả sáu nước đồng khởi binh chống lại. Cho nên Tống đưa ra kế hoạch Ngũ-lôi để đánh Đại-Việt.

Nhà vua hỏi Ỷ-Lan:

– Ái-khanh thử đoán xem, tại sao Tống không đánh mấy nước kia, mà lại chỉ chĩa mũi dùi vào Đại-Việt?

– Tâu, đánh rắn phải đánh đầu trước. Nếu Tống đem quân đánh sáu nước một lúc th́ hao tốn sinh mạng, mà lại khó thành công. V́ vậy trước hết họ dồn lực lượng đánh Đại-Việt. Sau khi thắng Đại-Việt, những nước nhỏ Chiêm, Chân, Lăo như cỏ non gặp băo, phải cúi đầu tuân phục. Bấy giờ họ dùng quân các nước nhỏ, tù-hàng binh Đại-Việt tiến đánh Xiêm-la, Đại-lư. Th́ Xiêm, Lư làm sao giữ nổi?

Triều đ́nh đều gật đầu, công nhận lư Ỷ-Lan là xác thực.

Thường-Kiệt tâu tiếp:

– Năm nhát búa đánh Đại-Việt gồm: thứ nhất là chia rẽ. Chia rẽ cũng có năm loại. Chia rẽ giữa hai phe họ Dương, họ Mai trong triều. Hai là chia rẽ giữa văn quan với vơ tướng. Ba là chia rẽ giữa hoàng thân với ngoại thích. Bốn là chia rẽ giữa các vơ phái. Năm là chia rẽ nội cung với triều đ́nh. Nhát thứ nh́ là gây nội chiến. Trong bóng tối họ giúp Dương gia nắm trọng quyền, rồi cướp ngôi. Dĩ nhiên trong trường hợp này Ngũ-long công chúa, cùng quân các trấn ở ngoài sẽ đem quân về triều để diệt tặc thần. Thế là có nội chiến. Khi ta có nội chiến th́ không thể làm minh chủ. Hoặc giả các nước trong liên minh, có nước ngả theo phe này, có nước ngả theo phe kia. Thế liên minh tộc Việt tự tan vỡ.

Triều đ́nh cùng im lặng nghe Thường-Kiệt tường tŕnh. Trước đây Ỷ-Lan cứ nghĩ rằng âm mưu của Tống chỉ giản dị trong việc Dương gia làm gian tế mà thôi. Nay nghe Thường-Kiệt tường tŕnh, nàng mới thấy cả một âm mưu vừa sâu vừa độc. Cũng may Đại-Việt có Quốc-phụ, có những đại thần như Thân Thiệu-Thái, Lê Thuận-Tông, Hà Thiện-Lăm, Lư Thường-Kiệt, sáng suốt t́m ra, đă làm tất cả những việc phải làm, ứng phó kịp thời.

Tiếng Thường-Kiệt vẫn sang sảng:

– Nhát búa thứ ba là dùng người Hán sinh sống trên Đất Việt làm nội ứng. Từ lâu rồi, mỗi khi có một triều đại mới bên Trung-quốc chiếm được ngôi vua, là y như con cháu di thần triều đại cũ lại tràn sang ta xin kiều ngụ. Họ sống thành bang hội, tổ chức rất chặt chẽ, họ chỉ nói tiếng Hoa, mặc quần áo Hoa. Họ cần cù làm ăn, khéo léo hối lộ với quan lại, lâu ngày họ thành giầu có, thế lực. Ngay từ khi Tống Thái-tổ lên ngôi, Tống triều đă âm thầm sai sứ sang phong chức tước cho những thủ lĩnh bang hội này, truyền bảo họ làm tế tác, báo mọi tin tức Đại-Việt cho Khu-mật viện Nam-thùy. Tống triều hứa rằng, khi quân Thiên-triều kéo sang, ai làm nội ứng nổi dậy; lúc chiếm được Đại-Việt th́ sẽ trao quyền cho bang hội của người ấy. Các thủ lĩnh người Hoa sẽ giữ các chức tước phương Nam. Biên thần Nam thùy Tống hợp bọn gian tế Hoa-kiều này với bọn gian tế Việt trong triều đ́nh. Để khi bọn người Hoa có ǵ khó khăn với quan lại, th́ được che chở. Ngược lại bọn Hoa kiều cung phụng tiền bạc, đôi khi cả gái cho bọn quan lại gian tế. Hiện trong nước, cứ mười người Việt, có một Hoa-kiều. Đó là nhát búa cực kỳ sắc bén và nặng nề.

Thường-Kiệt dừng lại, nhắp một chung trà, rồi tiếp:

– Nhát búa thứ tư là nhân Đại-Việt rối loạn v́ nội chiến, họ theo dơi t́nh h́nh. Khi thấy phe nào yếu thế, họ cử sứ sang phong chức tước cho phe đó, để phe đó mạnh lên, khiến chiến cuộc kéo dài. Chiến cuộc kéo dài th́ tinh lực quốc gia suy kiệt, ḷng người ly tán. Vơ lâm chém giết nhau, thù hận nhau. Bấy giờ họ mới đem đại quân qua, nhân danh trợ giúp phe yếu, v́ phe này là thần-tử nhà Tống. Tống để phe gian tiến quân trước, quân Tống đi theo trấn nhậm những nơi chiếm được, và chỉ can thiệp khi phe gian bại. Thế là phe mạnh tan ră. Mà khi phe yếu chiếm được nước, th́ kiệt quệ tinh lực, bấy giờ họ sẽ bóp như bóp một con kiến.

Thường-Kiệt đem trục lụa vẽ bản đồ sáu nước tộc Việt ra, chỉ vào phía Nam:

– Nhát thứ năm là dùng Chiêm-thành đánh phía sau ta, để ta phải chia quân ra cự địch. Từ thời Lĩnh-Nam, tộc Mă-lị-á (Mă-lai ngày nay), đi ngược lên phía Bắc, ḥa lẫn với tộc Việt ở Chân-lạp, Chiêm-thành. Nhờ tính t́nh hung ác, không lễ nghĩa, hành xử man rợ mà chiếm được ưu thế tại hai nước này. Khi sắc dân Mă nắm được quyền bính, là họ t́m cách tiến lên Bắc định xâm lấn Đại-Việt. Đây là trở ngại lớn cho thế thống nhất tộc Việt của ta hơn ngh́n năm nay.

Nhà vua quay lại Lễ-bộ thượng thư:

- Khanh hăy nhắc lại tất cả những lôi thôi của Chiêm quốc trong mấy năm gần đây với Đại-Việt một lượt, để triều đ́nh cùng nắm vững.

Lễ-bộ thượng-thư Mai Cảnh-Tiên đứng lên hành lễ:

– Thần thái-tử thiếu-phó, Lễ-bộ thượng thư, Khu-mật viện phó-sứ, Cần-chính điện thuyết thư, Kiến-xương hầu xin tâu.

Nhà vua vẫy tay:

– Thiếu-phó an tọa.

– Đa tạ bệ hạ. Về thời vua Hùng, vua An-Dương, Chiêm-thành là đất của Văn-lang, Âu-lạc. Nhưng sau một thời gian dài tộc Việt bị tộc Hoa cai trị, Chiêm bị cắt ra thành một nước nhỏ. Kể từ thời Lĩnh-Nam, một sắc dân mọi rợ tộc Mă, rất hung dữ ở biển Nam, tiến dần lên lập nghiệp ở Chân-lạp, Chiêm-thành, rồi chiếm được ngôi vua. Khi Hán đem quân sang đánh Lĩnh-Nam, vua Quang-Vũ sai sứ sang cắt đất Nhật-nam, phong chức tước cho vua Chiêm, xui quân Chiêm đánh phía sau ta, bị anh hùng Lại Thế-Cường, Trương Thủy-Hải, Trương Đằng-Giang đánh bại (1). Từ sau khi vua Trưng tuẫn quốc, tộc Mă càng ngày càng mạnh ở phương Nam, họ không chịu nhận gốc con cháu vua Hùng, riết rồi thành một nước khác biệt với ta, họ không c̣n nói tiếng Việt nữa. Thời vua Đinh, họ mượn tay Ngô Nhật-Khánh, để có chính nghĩa đem quân vào đánh ta.

Ghi chú :

(1) Xin xem Cẩm-khê di hận của Yên-tử cư-sĩ do Nam-á Paris xuất bản.

Tể-tướng Lư Đạo-Thành ngắt lời:

– Xin Thiếu-bảo đi vào chi tiết hơn cái vụ này một chút.

– Tuân lệnh Tể-tướng. Nguyên Ngô Nhật-Khánh là một sứ quân, gịng dơi vua Ngô-Quyền. Sau khi Nhật-Khánh đầu hàng vua Đinh. Vua lấy mẹ Nhật-Khánh làm vợ, đem em y gả cho thái tử Đinh-Liễn, lại gả con gái ḿnh cho y. Nhưng Nhật-Khánh vẫn muốn phục hồi ngôi vua. Y chạy sang Chiêm cầu viện. Chiêm nắm lấy cơ hội đó, niên hiệu Thái-b́nh thứ mười (Kỷ-Măo, 979) cho hơn ngh́n chiến thuyền theo Nhật-Khánh về đánh Đại-Việt. Nhưng thuyền đến cửa biển Đại-ác th́ bị băo đánh ch́m hết. Thời vua Lê Đại-Hành, ngài sai hai sứ là Từ Mục, Ngô Tử-Canh sang thông hiếu. Chiêm nghe lời Tống, giam sứ lại. Vua Lê nổi giận, niên hiệu Thiên-phúc thứ ba (Nhâm-Ngọ, 982) ngài đem quân sang phá kinh đô, hủy tông miếu của Chiêm để thị uy. Từ ngày đó Chiêm chịu thần phục, tuế cống. Niên hiệu Thiên-phúc thứ năm (Giáp-Ngọ, 994) lại xẩy ra vụ lôi thôi ở Nam biên. Tướng trấn thủ của ta viết thư thống trách. Vua Chiêm sai sứ sang tạ tội. Vua không nhận. Chiêm phải sai hoàng đệ Chế-Lai sang cống, vua Lê mới tha tội cho. Nhưng đến niên hiệu Ứng-thiên thứ tư (Đinh-Dậu, 997) phe người Mă chiếm quyền, lại cho quân quấy nhiễu Nam thùy ta.

... Kịp đến bản triều, niên hiệu Thuận-thiên thứ nh́ (1011) người Chiêm sang cống sư tử. Đức Thái-tổ ủy lạo, phong chức tước cho vua Chiêm, lại ban ấn ngọc. Đến niên hiệu Thuận-thiên thứ mười một (Canh-Thân, 1020) phe Mă lại lên cầm quyền, họ mang quân chiếm mười xă của ta. Đức Thái-tổ sai đức Thái-tôn cùng quan thái-úy Đào Thạc-Phụ đem quân sang đánh, chiếm lại đất Bố-chánh. Trong triều phe gốc Việt lại lên nắm quyền. Niên hiệu Càn-phù Hữu-đạo nguyên niên (Kỷ-Măo, 1039) phe Mă đảo chính cướp ngôi vua, con cháu di thần gốc Việt chạy sang ta cầu cứu. Song bấy giờ phía Bắc ta đang dụng binh, nên tạm nhượng họ ở Nam-phương. Từ đấy Chiêm bỏ ta sang Tống thần phục. Tống gửi người sang giúp Chiêm luyện quân. Chiêm chuẩn bị đánh phía sau Đại-Việt, để Tống đánh phiá trước. Quốc-phụ tổ chức đại hội tộc Việt ở Bắc-cương, Trưởng đại công chúa Bảo-Ḥa bàn nên ḥa hoăn với Tống, rồi th́nh ĺnh đem quân đánh Chiêm. Sau khi Chiêm bại, ta mới giúp Nùng Trí-Cao đánh Tống. V́ vậy niên hiệu Thiên-cảm Thánh-vũ nguyên niên (Giáp-Thân, 1044) đức Thái-tông cùng Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản mang đại quân sang đánh Chiêm. Quân ta đại thắng, chém vua Chiêm là Sạ-Đẩu, bắt 30 voi, năm ngh́n người, trong đám tù nhân có cả hoàng hậu Mỵ-Ê, nhiều cung nga, giết ba vạn quân giặc. Từ đấy phe gốc Việt cầm quyền, Chiêm tu cống hàng năm. Niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ ba (Tân-Sửu, 1061), Chế Củ (2) được sư phụ là Đinh Kiếm-Thương, cùng với dư đảng bang Nhật-hồ trợ giúp, giết vua, cướp ngôi. Kiếm-Thương được phong là Thái-sư Quốc-phụ, Cửu-chân vương. Ngay sau khi Chế Củ lên ngôi vua, y cử sứ sang xin thần phục Tống. Tống phong cho y làm Chiêm-vương. Tống triều mật chỉ cho an-vũ-sứ Quảng-Tây mua sắm ngựa chiến gửi sang giúp y. Tống c̣n gửi nhiều vơ quan sang cố vấn cho y thao luyện thủy quân, đóng chiến thuyền, để chuẩn bị đánh ta.

Ghi chú :

(2) Đại-Việt sử kư toàn thư gọi là Chế Củ, Việt-sử lược gọi là Đệ-Củ. Tống-sử quyển 489 gọi là Dang-pu-sơ-li Lu-đa-ban-ma-đệ-ba. Trong Le Royaume du Champa của Henri Maspéro gọi là Yan Pu Cri Rudravarmandra đệ tam.

Tể-tướng Lư Đạo-Thành tâu:

– T́nh h́nh Chiêm như vậy th́ thực đáng lo. Nhưng Chiêm có cử động ǵ cũng do Tống cả. T́nh h́nh Tống đang tranh quyền nhau chưa ngă ngũ. Cuộc tương tranh này dường như tể-tướng Hàn Kỳ hơi thắng thế, hơi th́ chỉ là tạm thời. Xin Hoàng-thượng sai sứ sang cống phương vật, nhân đó ta ḍ biết thêm tin tức, để liệu bề hành động. Nếu quả triều Tống đang chia phe đảng cắn cấu nhau như vậy, ta cất quân phá Chiêm. Chiêm bị phá, ta đỡ đi lưỡi búa nguy hiểm.

Nhà vua hỏi Thường-Kiệt:

– Thái-bảo nghĩ sao?

– Tâu bệ hạ, tể-tướng luận đúng. Hiện ta có hệ thống Tế-tác rất tinh-vi ở bên Tống. Hệ thống này do chính Khu-mật-viện Đại-Việt cùng Khu-mật-viện Bắc-biên chỉ huy. Mỗi biến chuyển của Tống triều ta đều biết hết. Trong triều, đám văn quan hiện chia làm hai phe. Phe đương cầm quyền do Hàn Kỳ cầm đầu. Phe mới đang ngấp nghé thay thế do Văn Ngạn-Bác cầm đầu. Phe Hàn Kỳ th́ a dua theo Triệu Thự, chủ mở rộng Nam-biên. Phe này gồm có bọn Dư Tĩnh, Tiêu Chú, Tiêu Cố, Lư Sư-Trung. Phe Văn Ngạn-Bác th́ được Hoàng-hậu tin dùng. Chúng được phái Hoa-sơn là nơi phát tích ra triều Tống ủng hộ. Bây giờ xin bệ hạ sai một vị nào trí tuệ thực minh mẫn giả đi sứ cống phương vật, quan sát tại chỗ, rồi đưa ra quyết định ta ủng hộ phe nào, giúp phe nào. Thần thấy ở đây quan tham-tri bộ Lễ Trần Trọng-San có thể sung vào làm chánh sứ. Quan tham-tri bộ Lại Quách Sĩ-An có thể sung làm phó sứ. C̣n cống phẩm, th́ như đă bàn trước, lần này cống cho Tống mười con voi thuần. Mười con trâu đực thực lớn.

Nhà vua chuẩn tấu, ngài nói với Thiệu-Cực:

– Biểu huynh biềt nhiều về Tống, xin biểu huynh cho hai vị sứ giả những lời chỉ dẫn.

Thân-thiệu-Cực nói với hai sứ giả:

– Trong khi đi sứ, xin nhị vị nhớ quốc sách của Khai-Quốc vương với Tống đă ấn định vào niên hiệu Thuận-thiên thứ mười bẩy (1027) tại đại hội Bắc-cương như sau: đối với triều đ́nh, ta hậu lễ, lời lẽ thực nhũn nhặn, bao nhiêu việc rắc rối ở biên giới ta đổ cho bọn quan lại Nam-thùy. C̣n đối với bọn này, ta thực cứng rắn. Bất cứ đụng chạm nào, ta cũng phản ứng cực kỳ khốc liệt. Tỷ như hồi Chương-thánh Gia-khánh thứ nh́ (1060), Bắc-biên đă tiến quân qua, làm Tống hao binh tổn tướng. Tống triều sai Dư Tĩnh nghị ḥa, vua bà B́nh-Dương đ̣i Tống chịu ba điều mới rút về. Dư Tĩnh phải đem nhiều vàng bạc cho sứ ta là Phí Gia-Hữu, để xin chuộc tướng Dương Lữ-Tài. Gia-Hữu tấu về triều. Triều đ́nh mật chỉ cho ông: ta ra quân chỉ có ư dằn mặt Tống triều và trừng trị bọn biên thần gây chiến, đằng nào cũng phải thả Lữ-Tài. Vậy cứ nhận vàng, mang về cho công khố.

Ông đưa mắt nh́n về phía Binh-bộ thượng thư:

– Một tỷ dụ thứ nh́ là pḥ-mă Lê Thuận-Tông cũng đi họp với biên thần Tống. Pḥ mă đă làm cho chúng tức ứa gan, mà đành cắn răng nín nhịn.

Quách Sĩ-An hỏi:

– Hồi đó chúng tôi chưa xuất chính, nên không rơ việc này, xin quốc-công thuật chi tiết cho.

– Việc đó cực mật.

Thiệu-Cực trả lời: Hồi đó đức Thái-tông với tôi nghị kế mới biết mà thôi. Hôm nay việc đă xa rồi tôi xin nói hết: nguyên trước đây, trong 207 khê động, th́ tộc Nùng chiếm mất 36. Trong tất cả các tộc thiểu số của Đại-Việt th́ tộc Nùng là một tộc thiếu văn hóa nhất, lại can đảm, hung dữ. Trong thời Đinh, Lê hết 33 khê động Nùng theo Tống, ta quen gọi là Nùng-Hoa. Họ nói tiếng Hán, học văn tự Hán, nhiễm phong tục Hán; họ quên gốc Việt, mà coi ḿnh là người Hoa. C̣n ba động theo Việt, họ nói tiếng Việt, giữ gốc Việt của ḿnh, ta quen gọi là Nùng-Việt. Tống luôn cử mật sứ sang xui Nùng-Việt phản Đại-Việt. Triều đ́nh ta biết việc đó, hết sức giúp Nùng Dân-Phú kiến thiết ba khê động Nùng thành châu Trường-sinh. Sau vua bà B́nh-Dương giúp Nùng Tồn-Phúc tiến lên Bắc lôi kéo 33 khê động Nùng theo Việt, thế là cả 36 động đều thuộc Trường-sinh. Trường-sinh trở thành nước lớn trong bốn nước Bắc-cương là Lạng-châu, Phong-châu, Thượng-oai. Trường-sinh tuy theo Đại-Việt, nhưng dân Nùng đa số nghĩ ḿnh là người Hoa, chân trong, chân ngoài. Đôi lúc họ muốn theo về Tống. Đức Thái-tông thấy, cứ t́nh trạng này, tộc Nùng sẽ theo Tống không biết lúc nào. Bấy giờ Tống sẽ xui họ gây chiến với ta, th́ cái họa sẽ không biết thế nào mà kể. Đức Thái-tông bàn với tôi t́m cách đối phó. Tôi đưa ra ư kiến: ”Lượng tiểu phi quân tử. Vô độc bất trượng phu”. Ta giúp Nùng Trí-Cao khởi binh tiến đánh Lưỡng-Quảng, rồi đưa y lên làm vua. Với một sắc dă man, mà cai trị dân Tống ở Lưỡng-Quảng là dân có văn hóa cao, th́ một trong hai vấn đề xẩy ra. Một là y dùng người Hán, bắt dân theo phong tục Hán, th́ sẽ bị chính tộc Nùng của y phản y. Bấy giờ những khê động Nùng lại trở về với Đại-Việt, y phải dùng người Hán dẹp loạn. Tộc Nùng sẽ tan nát. Sau cuộc chiến tinh lực mất hết. C̣n y thành công, tổ chức Trường-sinh biến ra một nước đệm giữa ta với Tống, th́ Tống với y luôn có chiến tranh. Như vậy y thay ta chống Tống, mà luôn phải dựa vào ta để tự tồn. V́ phía Bắc Trường-sinh giáp với Kinh-hồ, thuộc lănh thổ của Kinh-Nam vương, phía Nam giáp ta. Phía Tây giáp Đại-lư... y không thể trở mặt được.

Thiệu-Cực ngừng lại, rồi thở dài:

– Quả nhiên y đi theo đường thứ nhất. Tống thấy tộc Nùng bị Trí-Cao đàn áp, phân nửa bị chết, phân nửa theo về ta, rút cuộc quanh Trí-Cao toàn người Hoa. Tống cho Địch Thanh kéo quân xuống đánh, Trí-Cao bị bại. Chính v́ lẽ đó, khi Địch Thanh đánh y, Quốc-phụ vân du Xiêm-quốc vắng nhà, c̣n đức Thái-tông không chịu tiếp cứu y. Cho đến nay sĩ dân Việt, không ai hiểu tại sao ta dựng lên Đại-Nam, rồi lại bỏ rơi Đại-Nam.

Thiệu-Cực tiết lộ một điều tối cơ mật, khiến triều đ́nh đều ngơ ngác, họ như người mù được sáng mắt ra. Họ nghĩ thầm:

– Vua Thái-tông với Thân Thiệu-Cực trí lự thâm sâu đến như thế là cùng. Hai người đă hành sự trái với Khai-Quốc vương. Bởi Vương lập Đại-Nam chỉ với mục đích thống nhất tộc Việt. Hèn chi sau khi Đại-Nam bị diệt, Khai-Quốc vương chán nản, không thiết đến sự đời nữa.

Thiệu-Cực tiếp:

– Sau khi Trí-Cao bại, triều đ́nh Đại-Nam bị Địch Thanh bắt giải về Biện-kinh. Tiên-nương Bảo-Ḥa xót t́nh đệ tử, người sai một đội vơ sĩ Tản-Viên giúp Trí-Cao đón đường cướp tù binh, giải cứu được Phạm Đ́nh-Huy, Phạm Văn-Nhân, Đặng Vũ-Nùng, Đinh Nho-Quan đưa y sang gửi ở Đại-lư, sau không có tin tức ǵ nữa. Triều đ́nh cưu mang con y là Nùng Tông-Đán, cùng dư đảng cho coi động Lôi-hỏa nhỏ bé trong bẩy động Nùng. Nhưng đám dư đảng đó đa số là người Hoa, chúng định thần phục Tống. Niên hiệu Long-thụy Thái-b́nh thứ tư (1057), tôi mật nghị với Quốc-phụ, rồi đem vàng bạc cho chân tay y, để xúi y đánh Tống. Quả nhiên y tiến quân sang đánh Ung-châu. Quan trấn thủ Ung-châu là Tiêu Chú giao chiến với y nhiều trận. Tinh lực hai bên đều kiệt quệ. Viên quan coi Quế-châu (Quế-châu là châu lớn, Ung-châu chỉ là một châu nhỏ của Quế-châu) là Tiêu Cố muốn nghị ḥa. Cố sai viên chuyển vận sứ là Vương Hăn thuyết phục con Tông-Đán là Nhật-Tân nên theo Tống, tội trạng được tha, mà c̣n được phong chức tước. Tông-Đán thấy cái mộng làm thủ lĩnh bẩy khê động Nùng, bị Đại-Việt ngăn trở, chi bằng theo Tống, để sau có thể dựa Tống mà hoàn thành tâm nguyện. Thế là Tông-Đán hàng Tống, y được phong chức Trung-vũ tướng quân, Nhật-Tân được phong Tam-ban tá-chức, vẫn cho coi động Lôi-hỏa.

Ông đưa mắt nh́n nhà vua:

– Đến khi hoàng-thượng lên ngôi. Niên hiệu Chương-thánh Gia-khánh thứ tư (1062), bấy giờ Trị-b́nh (Anh-tông) c̣n là thái-tử Triệu Thự, đang Nam du, thiết kế đánh Đại-Việt. Vương Hăn coi Đàm-châu nắm được ư đó. Y thấy Tông-Đán cứ có ư thuyết phục các khê động Nùng-Tống theo y. Hăn tâu về triều. Tống triều nghị sự « dụ hổ khỏi rừng » bằng cách phong cho y coi châu Thuận-an gồm Lôi-hỏa, Kế-thành, Tiên-dư lớn gấp ba đất Lôi-hỏa của y, mà dân ở đó thuộc tộc Nùng-Tống. C̣n con y th́ được bổ coi về thuế ở Ung-châu. Với dân Nùng-Tống y không thể phản Tống được nữa.

Ông ngừng lại uống nước rối tiếp:

– Việc Tông-Đán theo Tống, khiến ta mất một vùng đất lớn, nên hồi đầu năm nay (1064), tôi xin vua bà B́nh-Dương sai Hổ-uy tướng quân Lưu Kỷ trấn ở châu Quảng-Nguyên, giả chuẩn bị binh mă đánh Tông-Đán, khiến y sợ, mà bỏ đi khỏi Thuận-an. Như vậy y mất căn bản, dân Thuận-an bơ vơ, sẽ theo về ta. Quả nhiên khi Lưu Kỷ mới ra quân, y cầu cứu với Tống, Tống lờ đi. Y bỏ chạy lên Quế-châu. Quan trấn thủ Quế-châu là Lục Sằn tâu về triều. Tống triều phong cho y chức Hữu-thiên ngưu-vệ tướng-quân.

Ghi chú :

Giai đoạn này, Tống-sử quyển 495, Liệt-truyện 254 trang 14.205– 14.220 chép như sau: niên hiệu Trị-b́nh nguyên niên (1064) đời Tống Anh-tông, Tông-Đán có hiềm khích với Lư Nhật-Tông (Thánh-tông) và Lưu Kỷ, bị chúng đe dọa. Viên coi Quế-châu là Lục Sằn biết vậy, sai người đến dụ. Tông-Đán bèn bỏ châu ḿnh vào nội địa, được ban chức Hữu-thiên ngưu-vệ tướng quân.

Thiệu-Cực tiếp:

– Bấy giờ Bắc-biên tấu về triều Đại-Việt. Triều đ́nh Đại-Việt nghị rằng việc Lục Sằn dụ Tông-Đán theo Tống, nộp đất cho Tống quyết không phải là chủ ư của Lục, mà của bọn hiếu chiến trong triều, muốn gây ra việc đă rồi, để Việt-Tống có chiến tranh. Bởi Tông-Đán được phong chức hữu-thiên ngưu vệ tướng quân là một tướng vơ phải có ông trạng lớn lao mới được huân dự đó. V́ thế hoàng-thượng sai pḥ-mă Lê Thuận-Tông đi Quế-châu gặp Sằn. Pḥ mă cương quyết bắt Sằn phải trả cha con Tông-Đán, và đất cho ta bằng không vua bà Bắc-biên với pḥ mă Thân Thiệu-Thái lại tiến quân sang như năm trước. Khi việc này xẩy ra Sằn không bị Tống triều cách chức, th́ cũng bị quân Việt giết chết. Lục Sằn tức ứa gan, nhưng phải nín nhịn.

Nhà vua nhắc:

– Xin biểu huynh thuật chi tiết thái độ của Lê pḥ mă cho những ai chưa biết, để nghe cho vui. Hồi ấy trẫm nắm được chủ trương của Anh-tông sau chuyến Nam du hồn phách c̣n chưa tỉnh, cái án tử h́nh của Kinh-Nam vương treo trên cổ. Hơn nữa trong thời gian ông ta ở Đại-Việt, đă được hàng triệu muỗi độc ưu ái tặng cho chứng sốt rét ngă nước... tinh thần ông ta rất yếu, ḿnh cần gây áp lực thực mạnh.

Ghi chú :

Xét hành trạng của vua Thánh-tông. Ngài là ông vua nổi tiếng nhân từ nhất Đại-Việt. Ngài từng ban luật: cho đến khi ra trước ṭa, mọi người đều được coi là vô tội. Điều mà các luật gia Tây-phương gần đây mới đưa ra. Nam Việt-Nam (1954-1975) đă áp dụng. Nhưng tại miền Bắc Việt-Nam (1945-1975), và toàn lănh thổ Việt-Nam đến nay vẫn chưa áp dụng.

Nhưng đối ngoại với Chiêm, với Tống, ngài cực kỳ cương quyết, thẳng tay để bảo vệ lănh thổ. Thực là ông vua đại anh hùng!

– Tuân chỉ bệ hạ.

Thiệu-Cực tiếp: Từ trước đến nay chỉ có sứ Tống sang ta là hống hách. C̣n sứ ta sang Tống bao giờ cũng phải tới biên giới Ung-châu. Viên An-vũ sứ tâu về triều Tống, sứ phải đợi có chỉ dụ trong kinh ra nới được lên đường. V́ đường xa, ngựa trạm đem biểu đến kinh, rồi trở lại thường mất hai tháng. Rồi An-vũ sứ Quảng-Tây cử một viên tiếp dẫn sứ, cùng quân sĩ hộ tống đi theo. Nhưng pḥ-mă Lê Thuận-Tông đi sứ lại khác. Pḥ mă dẫn theo đoàn tùy tùng một trăm thớt voi, năm mươi con cọp, năm mươi con báo, một trăm chim ưng, với năm trăm quân kị. Tới biên giới người bảo viên quan trấn thủ Ung-châu rằng: người cần gặp đại thần Tống đầy đủ thẩm quyền giải quyết vấn đề biên cương. Ung-châu thuộc Quảng-Nam lộ (bao gồm Quảng-Tây Nam lộ, Quảng-Đông Nam lộ, thường gọi tắt là Quảng-Đông, Quảng-Tây). Mà Quảng-Nam lộ thuộc thẩm quyền của viên trấn thủ Quế-châu là Lục Sằn. Viên quan coi Ung-châu muốn bắt bẻ pḥ mă như thế là không đúng lễ. Pḥ-mă mắng rằng người là ”Thái-tử thiếu-phó, Phong-châu tiết độ sứ, Long-nhượng đại tướng quân, Thành-nghĩa quốc công”, một biên cương đại thần Việt, muốn thương lượng với biên cương đại thần Tống. Giữa hai biên cương đại thần gặp nhau th́ không có vấn đề trên, dưới, thủ tục rắc rối. Viên trấn thủ ư chừng rét thái độ của pḥ mă. Một mặt y khoản đăi phái đoàn, một mặt y gửi thư cho Lục-Sằn. Khổ cho y, thành Ung nhỏ, mà phải cung ứng lúa, cỏ cho trăm thớt voi, năm trăm ngựa, thịt cho năm chục cọp, năm chực báo với trăm chim ưng thực là khốn khổ. Khi được tin báo, Sằn phái người đến biên giới tiếp phái đoàn đi Quế-châu. Đường đi mất hai mươi hai ngày, quan quân Tống cung phụng sứ đoàn đến phờ người ra.

Đến đây nhà vua thích chí bật cười, ngài nói bằng ngôn từ b́nh dân:

– Trẫm nhắc cho chư khanh biết một chuyện vui: số là ông anh rể của trẫm vốn chân thật, hiền hậu, sợ rằng đi sứ khó có thể ứng đối kịp với Lục Sằn là tiến-sĩ, nổi danh biện thuyết, nên người cho bà chị Kim-Thành của trẫm giả làm thông dịch theo. Bất kể ông anh nói ǵ, bà chị cứ biện thuyết theo ư ḿnh, Sằn tưởng đâu ông nói, bà dịch. Có ngờ đâu bà Kim-Thành nói không à!

Khắp triều đ́nh ai cũng biết công chúa Kim-Thành uyên thâm Nho học, bà đọc thiên kinh vạn quển, lư luận đanh thép. Đúng ra công chúa được sung vào sứ đoàn. Nhưng v́ Tống trọng nam khinh nữ, nên công chúa giả làm thông dịch viên. Chứ thực sự là công chúa lư luận với Lục Sằn.

Thiệu-Cực tiếp:

– Khi tới Quế-châu, Sằn cho mở cửa nhỏ của thành tiếp pḥ mă. Pḥ mă xua đàn chó sói vào trong, rồi ḿnh đứng ngoài. Sằn hỏi sao pḥ mă không vào. Pḥ mă đáp: cửa ngách để cho thú đi, chứ không phải cho sứ đoàn đi. Nay ta đi sứ nước lang sói, th́ cho lang sói vào. Chứ ta đường đường là tới quốc công, c̣n mi th́ chỉ mới có tước tử, mà sao y vô lễ như vậy? Sằn phải mở cửa chính, dàn thiết kị đón pḥ mă như đón một vị quốc công. Pḥ-mă nghênh ngang vào dinh của y, rồi đặt vấn đề: phải trả cha con Nùng Tông-Đán, và trả đất mà Đán nộp cho Tống. Sằn nói gượng rằng: đất ấy của Tông-Đán, th́ Đán có quyền nộp cho Tống chứ? C̣n Đán muốn theo Tống là do Tống có ân đức trải khắp Nam-man. Nam-man theo gió mà quy phục là việc đúng đạo lư. Pḥ mă nổi lôi đ́nh nạt: Lục An-vũ-sứ ngụy biện, không có đạo lư nào cả. Đất khắp Trung-nguyên là đất của Tống triều. Tống triều trao cho một viên quan nào trấn nhậm, th́ đất đó vẫn là của Tống. Ta hăy tỉ dụ như chủ trao lừa, trao ngựa cho đầy tớ chăn nuôi. Nếu như có viên quan Tống đem đất Tống cho người ngoài, th́ có khác ǵ kẻ chăn lừa, ngựa, đem lừa ngựa của chủ trao cho người khác? Theo luật Tống th́ kẻ chăn lừa ngựa đó thuộc phường trộm cắp; người nhận lừa ngựa là ṭng phạm chứa của gian cũng bị buộc vào tội trộm cắp. Nay cha con Tông-Đán là châu trưởng Đại-Việt, được trao cho coi ba châu, mà y bỏ Đại-Việt mang đất nộp cho Tống, th́ chúng là phường đạo tặc. C̣n Tống nhận th́ Tống cũng là đạo tặc. Này An-vũ sứ, ta biết vụ này do Tống triều chủ trương. Tiên sinh là Thiên-lôi, chỉ đâu đánh đó mà thôi. Nhưng mà, cuộc nghị ḥa hôm nay không thành, dĩ nhiên vua bà B́nh-Dương lại tiến quân sang. Tống triều vốn trọng Nho, khuyến khích trung, nghĩa, mà nay chỉ v́ chứa kẻ gian, nhận đất gian mà xẩy ra chiến tranh, ắt sĩ thiên hạ chê cười. Bấy giờ triều đ́nh sẽ đổ tội lên đầu An-vũ sứ đấy. Họ sẽ dùng An-vũ sứ làm con dê tế thần, cách chức đuổi về dân dă với cái án gây hấn ở Nam-biên. Ưng-sơn song hiệp chỉ việc căn cứ vào đó, mà giết cả nhà An-vũ sứ đến con chó, con mèo cũng không tha. Thôi, tôi nói ít, An-vũ sứ hiểu nhiều.

Lục Sằn tấu về triều. Tể-tướng Hàn Kỳ bàn rằng: « Nếu không trả đất th́ Giao-châu nó gây chiến. Dĩ nhiên chiến th́ ta không sợ. Nhưng xứ Giao-châu, rừng núi hiểm trở, khí hậu thấp độc. Nếu có chiếm lấy, cũng không giữ được. Chi bằng nên vỗ về, trả đất cho nó ». Thế là đất Lôi-hỏa, Kế-thành, Tiên-dư lại trở về ta, mà dân Nùng-Tống thành dân Nùng-Viêt.

Ghi chú :

Vụ này Tống-sử quyển 332, liệt truyện 91 trang 10.680– 10.682 chép như sau: từ khi giặc Nùng yên, người Giao-chỉ càng kiêu căng, các biên thần Nam phương thường nín nhịn cho qua. Sằn tới Ung họp động trưởng bốn mươi lăm động thuộc Tả, Hữu giang, chiêu mộ được năm vạn thổ binh, đặt các tướng lại, cấp cho ấn. Thanh thế Tống lại nổi dậy trong vùng khê động. Sứ Giao là Lê Thuận-Tông tới kiêu ngạo như cũ. Sằn nhún nhường mời tới giảng dụ phải kính lẽ phải...

... Sằn tấu về triều, vua Anh-tông mới lên ngôi, hỏi ư kiến các đ́nh thần. Tể-tướng Hàn Kỳ bàn rằng : « Xứ Giao-châu rừng núi hiểm trở, khí hậu thấp-độc. Nếu có lấy cũng không giữ được. Chỉ nên vỗ về chúng mà thôi”. Do vậy vua Tống Anh-tông trả hai châu Lôi-hỏa, Ôn-nhuận về cho Đại-Việt.

Thiệu-Cực nh́n hai sứ thần:

– Hai vị đi sứ, sẽ gặp bọn biên thần Tống, hăy nhớ việc hai vị sứ Phí Gia-Hữu, và pḥ mă Lê Thuận-Tông. Cứ ngang tàng, cương quyết với chúng, mà ngọt ngào với triều đ́nh. Bởi triều đ́nh đang chia rẽ, vua mới lên ngôi, ta dùng hậu lễ, lời nhũn nhặn, họ sẽ tin rằng ta hiếu ḥa, mọi rắc rối là do biên thần Tống hiếu sự.

Nhà vua vẫy tay ra hiệu băi triều.

Ban nhạc tấu khúc Long-hồi. Nhà vua với Ỷ-Lan hồi cung.
Về tới cung Ỷ-Lan, nhà vua nắm lấy tay nàng:

- Bây giờ anh là Dương Tông, em là Ỷ-Lan. Này em, chỉ nội ngày mai, chiếu chỉ ban ra, anh tưởng tượng hàng vạn, hàng ức tá điền sẽ nhảy nhót lên vui mừng. Ôi! Chúng ḿnh sung sướng biết là bao! Tuy nhiên các quan, phú gia họ sẽ buồn chút ít. Nhưng họ giầu quá th́ của cải cũng chỉ để mà nh́n thôi. Họ ăn đâu có hết. Họ mặc đâu có thiếu? Rồi họ sẽ nghĩ lại.

Nhà vua chợt nhớ ra điều ǵ, ngài nói:

– Ỷ-Lan này, em nhập cung hơn năm, mà chưa về thăm nhà. V́ vậy anh truyền chỉ chuẩn bị xa giá đưa em vinh-quy, thăm lại quê hương. Anh đă ban chỉ bộ Lễ làm sắc phong cho tổ-phụ, song thân của em, cùng ban Tam-ân cho làng Thổ-lội. Làng Thổ-lội, anh đổi ra làm Siêu-loại. Vậy em có ước vọng ǵ không?

– Ước vọng của em có ba điều. Một là giúp cho tá điền, hai là chuộc con gái nhà nghèo để gả cho người không tiền cưới vợ. Ba là minh oan cho sư phụ. Ba điều đó anh đă chu toàn rồi, th́ em chỉ ước mong, dâng cho anh một hoàng nam nữa mà thôi. Em xin anh một điều nhỏ nữa.

– Em cứ nói.

– Hồi thơ ấu em có bốn người bạn học, kết với nhau thành Hồng-hà ngũ long. Khi em về Thăng-long đă đem họ theo. Em lại có mười hai đứa em nuôi mà anh đă ban cho chúng cái tên là Tây-hồ thất kiệt với Long-biên ngũ hùng. Xin anh cho họ về cùng với em.

– À, anh nhớ ra bốn cô đó rồi, họ là Trinh-Dung, Ngọc-Huệ, Ngọc-Nam, Thanh-Thảo. Em đă đem bốn người đó gửi cho Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản, để được dạy dỗ rồi phải không? Anh nghe Tôn phu nhân nói rằng chí khí bốn người đó thực khác thường. Nhưng khi họ học Tôn ẩn-sĩ, th́ lại theo cái đạo của người mất.

– Đạo của Tôn là đạo ǵ vậy?

Nhà vua ph́ cười:

– Cái đạo của Tôn là thoát ṿng danh lợi, tiêu dao tự tại. Khi nước hữu sự, th́ cầm gươm đứng lên. Bây giờ em muốn xin anh điều ǵ?

– Anh cho bốn người cùng về quê với em, để mát mặt một thể.

– Anh đang suy nghĩ, không biết cử những vị quan nào theo pḥ giá cho em về Siêu-loại. Bây giờ em muốn cho bốn người bạn vinh quy, th́ anh không cần sai các quan nữa, mà có đến bốn người xin được tháp tùng.

– Ai vậy?

– Cách đây mấy ngày, Quốc-phụ, Quốc-mẫu nhờ Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên đứng ra làm mai họ nhà trai để hỏi Trinh-Dung với Ngọc-Nam cho hai hoàng tử Hoằng-Chân và Chiêu-Văn. Long-thành ẩn-sĩ đồng ư ngay, nhưng người lại muốn em làm mai nhà gái.

Ỷ-Lan đă nghe nói nhiều về hai hoàng tử Hoằng-Chân và Chiêu-Văn là con trai của Khai-Quốc vương với vương phi Thanh-Mai. Nào là đệ nhất mỹ nam tử của Thăng-long, nào là khí phách hơn đời, nào là văn-chương quán thế, nào là vơ-công cực cao. Cả hai đă được phong tước quốc công. Năm trước đây, lại có công dẹp giặc Mường ở Cẩm-thủy, tiến phong quận-vương. Hai vương tuy tuổi đă hai mươi mà chưa mở phủ đệ, tuyển vương phi. Cả hai dùng hết bổng lộc chu cấp cho người nghèo, thu nhận đệ tử. Chiêu-Văn nuôi dạy Tây-hồ thất kiệt, huấn luyện được đội Giao-long dũng sĩ năm trăm người, có thể lặn dưới nước hàng giờ. C̣n Hoằng-Chân th́ nuôi năm trẻ ở chùa Từ-quang, tức Long-biên ngũ hùng luyện được năm trăm dũng sĩ có thể leo trèo như vượn, bắn tên trăm phát trăm trúng. Ông lại gửi Long-biên ngũ hùng lên Bắc-biên học phép chỉ huy hổ, báo, sói, đười ươi như thời Lĩnh-Nam. Bây giờ nghe Khai-Quốc vương định hỏi Trinh-Dung, Ngọc-Nam cho hai hoàng tử ấy, th́ là điều Ỷ-Lan cầu mà không được.

Nàng nói:

– Em đồng ư ngay. Hay anh sẽ đứng ra làm mai nhà gái.

Nhà vua bật cười. Ỷ-Lan hỏi:

– Có ǵ ngộ nghĩnh không mà anh cười?

Nhà vua vuốt tóc Ỷ-Lan:

– Em chưa hiểu luật của triều đ́nh. Anh không thể làm mai cho bất cứ ai.

– Sao vậy?

– Theo luật bản triều, th́ tất cả con dân trong nước, đều thuộc quyền của anh cả. Nếu anh muốn gả một cô gái cho bất cứ chàng trai nào, cô gái đó đương nhiên là quận-chúa, công-chúa, th́ cha mẹ, làng xóm của cô ấy sẽ hănh diện lắm. Anh không cần phải làm mai.

Ỷ-Lan vui vẻ, nắm tay nhà vua:

– Anh bảo bộ Lễ làm sắc chỉ gả chồng ngay cho chúng là vừa. Như vậy, em vinh quy, sẽ có hai hoàng-tử theo hộ giá th́ hay biết mấy.

– Anh sẽ ban chỉ như em muốn. C̣n Ngọc-Huệ th́ anh truyền gả cho con trai của Văn-minh điện đại-học sĩ Bùi Hựu là Bùi Hoàng-Quan. Thanh-Thảo, anh truyền gả cho con trai H́nh-bộ thượng-thư Nguyễn Quư-Thuyết là Nguyễn Căn. Cả hai người này đều có đức hạnh tốt, lại văn vơ kiêm toàn.

Mười ngày sau, bộ Lễ tâu tŕnh đă chuẩn bị lễ vật cho sứ đoàn lên đường sang Tống tu-cống. Giữa lúc đó, Khu-mật viện Bắc-biên tâu rằng có sứ Tống sang cáo việc Gia-hựu hoàng đế nhà Tống đă băng hà, miếu hiệu là Nhân-tông. Thái-tử Triệu Thự lên ngôi vua, lấy hiệu là Trị-b́nh, tôn hoàng hậu là Từ-thánh Quang-hiến hoàng thái-hậu. Thái-hậu buông rèm thính chính đúng như triều đ́nh Đại-Việt đă dự đoán mấy hôm trước.

Triều đ́nh Đại-Việt lại họp Tinh-triều, dặn ḍ sứ đoàn những chi tiết phải làm. Bởi sứ đoàn có năm nhiệm vụ. Một là tu-cống, hai là điếu tang Nhân-tông, ba là mừng Trị-b́nh hoàng đế đăng cực, bốn là đưa ra đường lối hành động, năm là phối hợp Tế-tác Đại-Việt ở Tống.

Sứ đoàn gồm chánh sứ Trần Trọng-San, phó sứ Quách Sĩ-An, mười thị-vệ, bốn mươi tượng phu để chăn mười con voi; hai mươi mục-ngưu, để chăn mười con trâu. C̣n những nhân viên khác như kư lục, đầu bếp, thông dịch, phu khuân vác... tổng cộng sứ đoàn trên hai trăm người. Đấy là bề ngoài, c̣n thực ra, trong đám sai dịch ấy, có mười đại cao thủ của phái Đông-a, Tiêu-sơn, Tản-viên, Mê-linh do Khu-mật viện gửi theo, để thi hạnh mật lệnh. Chỉ những người này mới biết nhau mà thôi. Chánh, phó sứ cũng không được biết rơ sự thực. Tể-tướng Lư Đạo-Thành thân kiểm điểm lễ vật gồm voi, trâu, ngựa, hương liệu, ngà voi, đều đúng số lượng.

Đúng lúc lên đường, viên mục-ngưu cho biết trong mười con trâu, có một con đang bị tháo dạ. Sợ rằng dọc đường có thể bị gầy đi, xin đổi con khác. Việc mua một con trâu đực không phải là điều khó. Nhưng chỉ c̣n hơn giờ nữa là giờ Hoàng-đạo, sứ đoàn lên đường, mà phải kiếm một con trâu mộng th́ thực là thiên nan, vạn nan. Giữa lúc bối rối đó, Thượng-Dương hoàng hậu tuyên chỉ:

– Hiện trong Hoàng-thành có con trâu mộng của Ỷ-Lan phu nhân, xin tể-tướng xét xem con trâu này có béo tốt không? Nếu nó đầy đủ điều kiện, th́ không lẽ v́ quốc sự, phu nhân lại tiếc hay sao?

Mọi người đều biết rằng con trâu này trước đây Ỷ-Lan đă cứu nó khỏi bị giết tại chùa Từ-quang. Từ ngày phu nhân tiến cung, lư trưởng đem nó về Thăng-long cho nàng, để lấy ḷng. Ỷ-Lan cực kỳ thương yêu con vật. Hàng ngày, sáng sáng nàng cho nông dân mượn để cầy bừa. Chiều nàng thân cho nó ăn, rồi truyện tṛ với nó rất thân thiết. Việc này tới tai hoàng-hậu. Bà cực kỳ ghét nó. Bây giờ bà mượn cớ quốc sự tống nó khỏi Hoàng-thành.

Thế là con trâu được dắt ra. Ỷ-Lan vỗ tay lên đầu nó:

– Trâu ơi! Bây giờ v́ quốc sự, ta để trâu lên đường sang Tống. Sang đó, trâu nhớ chăm chỉ kéo cầy, đừng làm hổ danh ḿnh là trâu Đại-Việt nhé.

Con trâu rống lên những tiếng thảm thiết, nước mắt lă chă.

Nhà vua cùng triều đ́nh thân tiễn sứ đoàn tới cửa Bắc, rồi trở về. Ỷ-Lan lấy lư là học tṛ của phó sứ Quách Sĩ-An, nàng xin được tiễn ông mười dặm. Long-biên ngũ hùng nghe tin con trâu Thổ-lội bị đem cống Tầu, chúng cũng rủ nhau đi tiễn trâu. Thằng Dật dắt trâu, c̣n bốn thằng Nghi, Đoan, Ninh, Quang đi bốn bên. Triều đ́nh bấy giờ hầu hết là nho gia. Họ thấy Ỷ-Lan hiếu với thầy, đám trẻ lưu luyến con trâu như vậy, đều tâm phục.

Đoàn rời Thăng-long đi về phía Bắc. Qua mười dặm (5km) th́ tới khu rừng lau sậy. Hai bên đường lau mọc mênh mông, mỗi lần gió thổi, các cây lau cọ vào nhau, tạo thành một âm điệu thê lương.

Khi sứ đoàn rời Thăng-long mười dặm, vẫn chưa hết khu rừng lau, Long-biên ngũ hùng nh́n phong cảnh, nói với nhau:

– Ḿnh đi quăng nữa th́ về quê Siêu-loại.

Quách Sĩ-An chắp tay hành lễ với Ỷ-Lan:

– Thôi, xin phu nhân hồi loan cho, v́ trời nắng gắt.

Ỷ-Lan chắp tay xá Quách Sĩ-An rồi vỗ đầu trâu:

– Thôi trâu lên đường nghe. Vĩnh biệt từ đây!

Đám trẻ thẫn thờ vuốt sừng, vỗ lên lưng trâu nói những lời tiễn biệt. Nước mắt Ỷ-Lan chảy dài xuống hai g̣ má, thế là đám trẻ khóc theo. Con trâu quỳ gối, hướng về Thăng-long lạy Ỷ-Lan với đám trẻ năm lạy, rồi rơi nước mắt lên đường.

Ghi chú :

Chỗ đất này, sau Long-biên ngũ hùng lĩnh chức đại tướng quân, đă sai đắp một ngọn núi nhỏ, trông giống h́nh con trâu quỳ để kỷ niệm Ỷ-Lan với năm ông giă biệt con vật thân yêu; rồi dùng làm nơi luyện tập các đội binh voi, hổ, báo, sói, khỉ, ưng . Người sau không biết, nhân trông h́nh núi như con vật bốn chân, th́ cho đó là h́nh con voi, nên gọi núi ấy là núi voi phục. Nay vẫn c̣n, nhưng núi ṃn, chỉ c̣n lại đống đất như cái g̣ lớn.

Chỗ đất trâu qùy đó, cho đến đầu thế kỷ thứ hai mươi này, cũng vẫn là cánh đồng lau. Một người Pháp tên Marty xin chính phủ Đông-dương cho khai hoang. Ông bỏ tiền mượn người đến đốt rừng lau, cầy đất hoang, nhặt đá, biến thành đồn điền Marty chuyên trồng lúa. Sau 1945, đồn điền Marty bị băi bỏ, đặt thành xă Quang-trung, thuộc huyện Gia-lâm, tỉnh Bắc-ninh. Năm 1965 đổi thành xă Trâu-quỳ. Xă Trâu-qùy chuyên trồng lúa.

Xă Trâu-qùy là một trong 31 xă thuộc huyện Gia-lâm, Hà-nội. Phía Bắc giáp xă Cổ-bi, phía Đông giáp xă Dương-xá, Đặng-xá, Phú-thị. Phía Nam giáp xă Đa-tốn, Kiêu-kị. Phía Tây giáp xă Cự-khôi, Đông-dư, Thạch-bàn. Hiện xă gồm các thôn An-đào, An-lạc, B́nh-minh, Chính-trung, Cửu-việt, Kiên-thành và khu phố Trâu-qùy.

V́ nguyên do Trâu-quỳ là xă tân lập, thiếu những truyền thống, phong tục, miếu mạo so với các xă cổ xung quanh, có từ hai, ba ngh́n năm trước. Nhưng cái tên Trâu-qùy lại có gốc lịch sử hơn ngh́n năm. Ngày nay xă Trâu-qùy là nơi đặt những cơ quan đầu năo của huyện Gia-lâm. Lui vào trong một chút, có những căn nhà ngói khang trang, do người Pháp kiến trúc từ đầu thế kỷ này, nhưng vẫn c̣n nguyên. Đó là trụ sở của đồn điền Marty xưa; nay dùng làm trường đại học Nông-nghiệp, mang tên ”đại học nông nghiệp Trâu-qùy”. Đại học lĩnh nhiệm vụ đào tạo mười bốn ngành chuyên gia canh nông. Đi mấy cây số nữa đến thôn Dương-đà, xă Dương-xá, là nơi tọa lạc đền thờ Linh-Nhân hoàng thái hậu. Ngoài giáo-sư, sinh viên của trường, đại học Trâu-quỳ ít ai biết nguồn gốc cái tên này. Hầu hết người ta viết sai chính tả thành « châu » quỳ, thực là vô nghĩa, và mất gốc.

Hôm ấy vào ngày rằm, v́ phải lên vùng Kinh-Bắc duyệt thủy quân, nhà vua trao quyền cho Ỷ-Lan đọc những tấu chương, rồi châu-phê, đợi ngài về sẽ kư, sau đó chuyển cho tể-tướng Lư Đạo-Thành. Ỷ-Lan ở lại trong cung với mẹ con Thúy-Hoàng, Thúy-Phượng. Ngoài ra c̣n tên thái giám Nguyễn Bông hầu cận. V́ nhà vua cũng như Ỷ-Lan, đều có vơ công cao, nên cung Ỷ-Lan không dùng thị-vệ canh gác như những cung khác.

Ỷ-Lan đang đọc đến tờ tấu chương của trấn Thanh-hóa, Nghệ-an nói về t́nh-h́nh Chiêm-quốc, th́ nàng nghe như có tiếng chân người rón rén tiến lại phía cửa sổ. Hồi này, nội công âm nhu của nàng luyện đă tới mức thượng thừa, nên dù những tiếng động nho nhỏ, nàng cũng phân biệt được.

Nàng giả như không nghe thấy, cứ tiếp tục đọc, th́ lại có tiếng người ta chọc giấy dán cửa sổ. Nàng nghĩ thầm:

– Nhất định là quân gian rồi đây. Y ŕnh ṃ định làm ǵ?

Nàng cầm chung trà lên, vận ḱnh lực, rồi nói:

– Người là ai, mà dám đến nơi này ŕnh ṃ?

Nói dứt lời, nàng tung cái chung về phía cửa sổ, rồi lạng ḿnh ra sân. Ngoài sân, một người trùm kín đầu, đang vung tay gạt cái chung. Cái chung trúng vào tường đến bốp một tiếng, vỡ tan tành. Ỷ-Lan xẹt đến bên người kia, lạnh lùng nói:

– Cao nhân là ai? Xin mời vào xơi nước.

Người kia cười kh́, rồi theo Ỷ-Lan vào trong. Y không khách sáo, ngồi ngay xuống ghế. Ỷ-Lan rót nước vào chung, trao cho người ấy. Trong khi trao, nàng vận nội lực ra đầu ngón tay. Người kia tiếp cái chung, bị nội lực của Ỷ-Lan tấn công. Y cũng vận nội lực chống trả, hai ḱnh lực gặp nhau khiến nước trong chung bắn vọt lên cao. Người kia phất tay một cái, nước bắn vào người mẹ con Thúy-Hoàng, Thúy-Phượng đứng sau. Hai người ái lên một tiếng rồi ngă ngồi xuống.

Ỷ-Lan thấy hơi nước có mùi tanh tanh rất quen thuộc, nàng độ chừng rằng hai người chỉ trúng độc mê man chứ không đến nỗi nguy hiểm đến tính mệnh. Nàng cười nhạt:

– Th́ ra tôn giá cũng biết dùng Chu-sa độc tố đấy.

Người ấy lạnh lùng ngồi bất động.

Ỷ-Lan hỏi:

– Xin quư khách cho biết cao danh, quư tính?

Người kia mở khăn trùm đầu, th́ chính là Đinh Kiếm-Thương, kẻ xưng tên Trần Tự-An đă dạy vơ công cho nàng. Ỷ-Lan bật lên tiếng kêu:

– Sư phụ. Đă hơn năm nay không được tin tức lăo nhân gia. Người vẫn mạnh chứ?

– Phu nhân có biết ta là ai không?

– Đệ tử biết lăo nhân gia không phải là đại hiệp Trần Tự-An. Sư phụ ơi, tên người là Đinh Kiếm-Thương phải không? Theo đệ tử biết, th́ những kẻ có bản lĩnh ngang với người, e Đại-Việt, Đại-Tống đếm trên bàn tay. Tại sao lăo nhân gia lại phải đội tên đại hiệp Tự-An? Đệ tử thực không hiểu nổi.

– Bậy nào. Ta chính là Trần Tự-An, đứng hàng nh́ trong Đại-Việt ngũ long, sau gă thầy chùa Minh-Không. Đúng ra ta đứng đầu ngũ-long đấy chứ. Nhưng v́ gă Minh-Không là thầy chùa, là sư huynh của gă Lư Công-Uẩn nên ta phải đứng sau gă. C̣n thực ra bản lĩnh của ta hơn y nhiều. Tại sao phu nhân lại bảo ta là Đinh Kiếm-Thương?
Mặt lăo trở thành lầm ĺ:

– Đinh Kiếm-Thương hiện giờ vẫn c̣n sống. Y ẩn ở trong phủ đệ của tể-tướng Dương Đạo-Gia. Từ hôm Dương Đạo-Gia bị cách chức, không rơ y đi đâu mất.

Ḷng Ỷ-Lan đầy nghi hoặc. Không biết nàng tin lăo hay tin vua bà B́nh-Dương? Nàng hỏi lại:

– Sư phụ, có một đêm đệ tử trở lại con đ̣ t́m sư phụ, th́ thấy sư-mẫu cùng hai đ̣ phu chết cong queo, miệng bị nhét thịt chó. Sau đấy đệ tử bị bắt giam, thành ra không trở lại được. Có đúng sư mẫu bị Mộc-Tồn ḥa thượng sát hại không?

– Đúng thế. Hôm ấy ta đi t́m phu-nhân ở nhà Lư Thường-Kiệt. Khi trở về, th́ thấy vợ ta bị tên Mộc-Tồn Vọng-Thê ḥa thượng sát hại. Ta định giết y để trả thù cho hiền thê. Sau hơn trăm hiệp, y bị lạc bại bỏ chạy. Ta đuổi y cho tới Thanh-hóa th́ mất tích. Khi ta trở về Thăng-long th́ người ta chôn sư mẫu rồi. Từ hôm mất sư mẫu, ta như người hóa điên, ta đi t́m phu nhân. Măi hôm nay mới thấy.

Ỷ-Lan hỏi khéo:

– Đệ tử nghe sư phụ chế ra Cổ-loa tâm pháp, rồi truyền cho sư huynh Lư Thường-Kiệt. Cớ sao sư phụ bắt đệ tử phải đánh cắp tâm pháp này cho sư phụ?

– Hừ! Phu-nhân đâu biết rằng ta già rồi nên quên mất tâm pháp đó. Nhưng không lẽ ta là thái sư phụ, mà lại đi hỏi y? Ừ, sau khi mi rời ta, không có thuốc giải, mà phu nhân sống được kể cũng lạ. Có phải thằng lỏi Thường-Kiệt đem thuốc giải cho phu nhân không?

– Quả đúng như sư phụ đoán. Sư huynh Thường-Kiệt đă cho đệ tử thuốc giải. Sau này U-bon vương Lê Văn với pḥ-mă Thân Thiệu-Thái c̣n dùng thần công trị tuyệt nọc Chu-sa huyền-âm cho đệ tử nữa.

– V́ vậy phu nhân mới trốn không gặp ta, khiến ta phải đi t́m phu nhân. Có đúng vậy không?

– Không phải thế. Nhưng sư phụ ơi, Chu-sa huyền-âm chưởng là chưởng tà môn. Bất cứ người trong chính phái, hay tà phái đều muốn tru diệt. Sư phụ nên bỏ đi, đừng luyện nữa.

– Tà môn! Thế nào là tà môn? Vơ công là ǵ? Là dùng hết khả năng để chém giết nhau. V́ vậy có người dùng đao, có người dùng kiếm, có người dùng ám khí. Nay ta dùng thuốc để đánh địch th́ cũng thế. Cái bọn hèn hạ đánh không lại th́ kêu ầm lên là tà môn. Ta hỏi phu nhân câu này nhé: nếu phu nhân không dùng Huyền-âm nội lực, th́ sao có thể bắt tên Đoàn Quang-Minh, con Minh-Can khai ra sự thực trong dinh Trung-nghĩa? Nếu không dùng vơ công Chu-sa th́ sao có thể thắng tên Trịnh Quang-Thạch?

Ỷ-Lan vẫn chưa chịu thua:

– Trước đây chính sư phụ chế ra phương pháp phản Chu-sa chưởng. Chính phương pháp này đă đánh bại các trưởng lăo bang Nhật-Hồ. Rồi cũng chính sư huynh Thông-Mai kịch đấu với Nhật-Hồ lăo nhân, đi đến chỗ cả hai cùng chết. Nhưng sư huynh Thông-Mai may mắn được lăo sư Phan Nam cứu thoát. Thế mà nay sư phụ lại luyện độc chưởng đó của Nhật-Hồ.

Bỗng có tiếng thanh la, tiếng quát tháo, rồi có nhiều tiếng chân người chạy rầm rập, cùng tiếng thị-vệ:

– Gian tế! Gian tế!

Kiếm-Thương phóng ḿnh qua cửa sổ mất tích.

Lập tức một đội nữ binh gươm đao sáng choang, do một thiếu nữ cầm đầu chạy đến. Ỷ-Lan nhận ra thiếu nữ đó là công chúa Thiên-Ninh. Công chúa cung tay hành lễ với nàng, rồi hỏi:

– Phu-nhân có sao không? Gian tế đâu rồi?

Ỷ-Lan nắm tay Thiên-Ninh:

– Cảm ơn Thiên-Ninh, cô không sao cả. Gian tế đấu chưởng với cô, bất phân thắng bại. Sau thấy động, y bỏ chạy. Chỉ có Thúy-Hoàng, với Thúy-Phượng bị trúng độc nhưng không sao.

Nàng dắt Thiên-Ninh vào cung Ỷ-Lan, trong khi đội nữ binh dàn ra mau chóng bao vây lấy xung quanh. Ỷ-Lan dùng phương pháp hút độc của Đinh Kiếm-Thương dạy, nàng xoa trên mặt hai người, mỗi người một cái, lập tức mẹ con Thúy-Hoàng, Thúy-Phượng tỉnh ngay.

Thiên-Ninh hỏi:

– Phu nhân! Gian tế là loại người nào vậy? Y định làm ǵ?

Ỷ-Lan lắc đầu:

– Cô thực không rơ ư đồ của y. Y là một lăo già tuổi trên bẩy mươi. Vơ công của y là vơ công Đông-a, nhưng nội lực lại là nội lực Hồng-thiết.

Từ ngày nhập cung, Ỷ-Lan rất thân với ba bà phi, sinh mẫu của công chúa Thiên-Thành, Động-Thiên và Thiên-Ninh. So vai vế th́ cái tước phu nhân của nàng thấp hơn tước phi của ba bà. Về tuổi tác, các bà đáng tuổi mẹ nàng, nên nàng không dám ỷ được sủng ái mà lên mặt. Trái lại, nàng rất lễ phép, nhũn nhặn với các bà. Nên các bà cực kỳ yêu quư nàng.

Riêng Thiên-Ninh, v́ là đệ tử công chúa Bảo-Ḥa, vơ công nàng cao thâm vô cùng, nàng lại uyên thâm Nho học, rất giỏi về tổ chức canh nông, tiền tệ, thuế má. Nàng đă được triều đ́nh trao cho nhiệm vụ kiểm soát việc thi hành cải cách canh nông, binh lương. Khi vừa gặp nhau lần đầu, Ỷ-Lan với nàng thân nhau ngay. Hai người thường bàn quốc sự với nhau. Tuy vai vế Ỷ-Lan ngang với mẹ Thiên-Ninh; Thiên-Ninh gọi nàng là phu nhân, xưng con, Ỷ-Lan xưng cô với nàng. Nhưng hai người như cặp bạn thân thiết vô cùng. Ỷ-Lan xin với nhà vua cho nàng thu nhận tiểu thư con các quan, luyện tập thành đội nữ binh, hầu bảo vệ cho Hoàng-thành. Nhà vua đồng ư ngay. Chỉ trong ṿng nửa năm đội nữ binh đả có khả năng chiến đấu như một đạo binh. Ỷ-Lan lấy tên nữ tướng vơ công cực cao thời vua Trưng tên Trần Năng tước phong công chúa Gia-Hưng đặt cho đạo binh này.

Ghi chú :

Sau này khi Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang đánh, công chúa Thiên-Ninh được chỉ định trấn thủ pḥng tuyến bảo vệ ṿng đai Thăng-long. Quân Tống phá vỡ chiến lũy Như-nguyệt, như nước vỡ bờ, tiến tới rừng tre cách Thăng-long có 25 cây-số. Công-chúa Thiên-Ninh dùng đạo binh Yên-lăng tử chiến, đánh bật quân Tống lui về Như-nguyệt.

Gia phả cũng như từ đường của con cháu họ Lư tại Bắc Cao có đôi câu đối :

Thập bát anh hùng giai Phù-đổng,
Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê-linh.

Nghĩa là 18 anh hùng đều có thể ví với Phù-đổng Thiên-vương, ba ngh́n nữ kiệt có thể sánh với các anh hùng thời vua Trưng.

Sau khi tuẫn quốc, Công-chúa rất thiêng. Hiện đền thờ Công-chúa tại Thị-cầu, lỵ sở của tỉnh Bắc-ninh, hằng năm vào đầu xuân, có hằng mấy trăm người tới vay tiền Bà Chúa-kho.

Hết Hồi 15