Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

ANH HÙNG ĐÔNG A DỰNG CỜ B̀NH MÔNG

 

 

Ba cuộc chiến thắng Mông-cổ

Ba cuộc b́nh Mông tộc Việt

Một đoạn ngắn gia phả họ Trần

Thư tịch về Mông-cổ

Quyển I

Quyển II

Quyển III

Quyển IV

Quyển V

 

 

In ra

Một cái nh́n tổng quát về
Ba cuộc chiến thắng Mông-cổ
thế kỷ thứ XIII của dân tộc Việt-Nam.


Giáo-sư Pape Vareilla
Viện-trưởng viện Pháp-á
Chuyển ngữ : Tăng Hồng Minh, tiến sĩ văn chương.

1. Viện Pháp-á xin trân trọng tŕnh bầy với quư độc giả bộ lịch sử tiểu thuyết mang tên: Anh hùng Đông-A thuật ba giai đoạn chiến thắng quân Mông-cổ của dân tộc Việt-Nam vào thế kỷ thứ 13.

Anh-hùng Đông-A có hai đoạn:

            a-  Đoạn mở đầu mang tên : Dựng-cờ b́nh Mông. mà độc giả đang có trên tay.
             Trọn bộ gồm 5 quyển, mỗi quyển trên dưới 500 trang, tổng cộng 2566 trang.

             b- Đoạn thứ nh́ mang tên : Gươm thiêng Hàm-tử.
             Bộ này dự trù sẽ được xuất bản vào cuối năm 2000.
             Tác giả là Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, giáo sư trưởng khoa Sinologie của viện Pháp-á.

2. Sở dĩ viện Pháp-Á giúp đỡ, cung cấp tài liệu, trợ giúp giáo sư Trần trong việc biên tập này, v́ ba nghi vấn lớn của lịch sử, mà ông có khả năng làm sáng tỏ.

- Một là, như lịch sử chép, quân Mông-cổ chinh phục, chiến thắng toàn bộ các nước từ Á sang Âu, rồi đặt nền cai trị đến mấy trăm năm. Thế nhưng vó ngựa thép Mông-cổ bị chặn lại tại Việt-Nam và Nhật-bản. Mông-cổ bị hai dân tộc này đánh bại. Đối với Nhật-bản, thắng Mông-cổ th́ dễ hiểu, bởi quân Mông-cổ sống trên vùng Thảo-nguyên, họ chỉ có kỵ binh, dùng cung tên, và chưa từng biết thủy chiến. Khi đánh Nhật-bản, quân số của họ ít, lại phải bỏ ngựa đi thuyền. Khi đổ bộ lên Nhật-bản, họ bị dân Nhật đông gấp bội, quen thủy tính, thuộc địa thế, đón chờ trên bờ, đổ ra đánh. Họ bị bại là lẽ đương nhiên. Thế nhưng khi đánh Việt-Nam, họ bị bại đến ba lần. Lần đầu 10 vạn quân, lần thứ nh́, và thứ ba, mỗi lần 50 vạn quân. Địa thế Việt-Nam họ quen thuộc, lại thuận tiện. Biên giới Hoa-Việt liền với nhau. Đường thủy, đường bộ đều dễ dàng. Cả hai bên cùng dùng bộ chiến, thủy chiến. Cho đến nay, các nhà Mông-cổ học, các nhà sử học cũng không hiểu trong cuộc chiến tranh này, người Việt đă dùng vũ khí ǵ ? Dùng chiến thuật ǵ mà thắng Mông-cổ vẻ vang như thế ?

- Hai là, truyền thống của Mông-cổ, mỗi khi bị bại tại một mặt trận nào, không bao giờ họ chịu nhịn. Họ sẽ dốc quân nghiêng nước sang trả thù, cho đến lúc đạt được chiến thắng toàn bộ mới thôi. Khi Mông-cổ sang đánh Việt-Nam lần thứ nhất là năm 1258, là lúc mà họ cực thịnh. Họ đă chiếm đến 9/10 lănh thổ Trung-quốc, toàn bộ các nước Á-châu như Kim, Liêu, Tây-hạ, Thổ-phồn, Cao-ly, Tây-tạng, Afganistan, Hồi. Họ cũng đă chinh phục toàn bộ các nước vùng Trung-Đông, các nước Âu-châu như Đức, Hung, Ba-lan, Tiệp-khắc, Liên-sô. Rồi khi họ sang đánh lần thứ nh́ (1284-1285) và ba (1287-1288), là lúc họ chiếm trọn Trung-quốc. Có thể nói, bấy giờ quân của họ đông gấp ngh́n quân Việt. Thế sao, sau ba lần bị bại, họ lại im lặng chịu nhục, không diệt hết dân Việt như họ đă làm tại các nước Trung-Đông, Âu-châu ?

- Ba là, theo các bộ chính sử Trung-quốc như Sử-kư Hán-thư, Ngũ-đại sử, Đường-thư, Tống-sử, Nguyên-sử th́ người Việt giỏi thủy chiến. Khi đánh nhau với Trung-Quốc, dưới sông, trên biển, bao giờ họ cũng thắng. Sự thực ra sao ? Người Việt có thể lặn dưới nước hàng giờ (120 phút ngày nay) như sử Trung-quốc chép không ? Tất cả các trận đánh lớn với Mông-cổ, mà người Việt toàn thắng đều là thủy chiến : Đông-bộ đầu, Tây-kết, Hàm-tử, Chương-dương, Bạch-đằng. Yếu tố nào người Việt lại giỏi thủy chiến như vậy ?

3. Trong phần 1, tức Dựng-cờ b́nh Mông, giáo-sư Trần Đại-Sỹ đă khởi mốc thời gian từ thời vua Anh-tông triều Lư (1157), để độc giả thấy rơ, v́ lư do ǵ, mà một triều đại đang huy hoàng như vậy, bị xụp đổ dễ dàng? Dân chúng mau chóng quên dư vang chiến thắng đánh Tống, b́nh Chiêm của triều Lư? Tuy là tiểu thuyết, nhưng tác giả đă t́m ra được những bí ẩn lịch sử, bị chôn vùi theo thời gian :

- Trải suốt 4 ngh́n năm lịch sử, Trung-quốc luôn coi Việt-Nam là một phần lănh thổ của họ. Họ gọi Việt-Nam là quận Giao-chỉ. Họ phong cho các vua Việt là Giao-chỉ quận vương. Trong khi các vua Việt cứ xưng là hoàng đế, có niên hiệu riêng. Nước Việt vẫn xưng là Đại-Việt. Tṛ chơi này kéo dài đến 4000 năm. Vậy th́ do đâu Trung-quốc lại công nhận Việt-Nam là một nước, mang tên An-Nam, công nhận vua Việt là An-Nam quốc vương ?

- Suốt 23 năm qua, các giáo sư nhân chủng học Tây-phương đưa ra nhận xét : Từ năm 1975, có cuộc di cư vĩ đại của người Việt ra ngoại quốc. Họ ra nước ngoài với hai bàn tay trắng. Thế nhưng chỉ sau mấy năm, họ đă có chỗ đứng thực vững chắc trong mọi lănh vực, hơn dân bản sứ rất nhiều. Trẻ Việt trong các trường học, gần như chúng đều là những học sinh ưu tú. Rồi kết luận : Người Việt vốn thông minh hiếu học, nhưng tŕnh độ giáo dục khoa học, kỹ thuật Việt-Nam quá thấp. Họ lúng túng trong cái nhỏ hẹp của lănh thổ. Khi ra hải ngoại, họ như đại bàng tung cánh trên bầu trời. Ngược lại, giáo sư Trần Đại-Sỹ th́ cho rằng, sở dĩ người Việt được như thế, v́ họ có một chủ đạo vững chắc. Ông đă chứng minh được điều đó: Trong cuộc sưu khảo, ông t́m ra hai tộc Lư tại Đại-hàn, từng là thuyền nhân vào thế kỷ thứ 12 và 13. Đây là hai trường hợp điển h́nh. Hai gịng họ này là thuyền nhân tới Hàn quốc vào năm 1150 và 1226 (1). Khi tới Hàn-quốc, các thuyền nhân này mau chóng trở thành những nhân vật kiệt hiệt trong văn học, trong chính trị, quân sự. Tổng thống Lư Thừa-Văn trước đây là con cháu của thuyền nhân năm 1226. Hiện tại cả Nam lẫn Bắc-hàn, bất cứ trong lănh vực nào, gịng họ Lư, gốc thuyền nhân cũng trội hơn các tộc khác. Giáo sư Trần Đại-Sỹ kết luận: Sở dĩ người Việt chiếm được ưu thế như vậy là do họ có một chủ đạo, gần ngh́n năm trước họ đă hơn người, chứ không phải đến bây giờ.

4. Sang phần thứ nh́ của bộ Anh hùng Đông-a là Gươm thiêng Hàm-tử, tác giả thuật lại hai chiến cuộc lớn nhất của Việt-Nam với Mông-cổ. Khác với lần thứ nhất, quân số Mông-cổ chỉ có 5 vạn, c̣n 5 vạn là hàng binh Đại-lư. Người chỉ huy là Thái-sư Ngột-lương Hợp-thai (2). Lần này Hoàng-đế Hốt Tất Liệt sai Thái-tử Thoát Hoan, cùng những danh tướng tài ba nhất, mang tới 50 vạn quân. Kết quả, Thoát Hoan phải bỏ chạy, hài hước là vị trừ quân Mông-cổ phải chui vào ống đồng, mới thoát chết. Đến lần thứ ba, cũng quân số 50 vạn người. Cho rằng v́ Việt-Nam giỏi thủy chiến, Hốt Tất Liệt đă gửi hạm đội ưu tú nhất, gồm 5 vạn người, toàn người Trung-hoa. Kết quả, lại bị phá trong trận thủy chiến Bạch-đằng. Kỳ diệu thay!

Xin mở cái ngoặc ở đây, khi nghe giáo sư Trần Đại Sỹ giảng về trận Bạch-đằng cho sinh viên; dù tôi đă được xem vidéo chiếu địa thế Bạch-đằng, song chúng tôi cũng không tin cho lắm. Hè năm 1998, tôi cùng giáo sư Henri Pontalet, được giáo sư Trần Đại Sỹ dẫn sang Việt-Nam, quan sát tại chỗ địa thế Bạch-đằng cùng cư dân sống trên thuyền ở vịnh Hạ-long, chúng tôi mới thực sự tin (3)

5. Chắc quư độc giả muốn biết, chúng tôi đă giúp ǵ? Bằng phương tiện ǵ ? Để giáo sư Trần Đại Sỹ có thể hoàn thành một công việc nghiên cứu ngoài chuyên môn của ông ? Xin thưa, nếu ông không là một bác sĩ y khoa th́ ông không thể nào thực hiện được công việc nghiên cứu này.

Vốn có cái sở học uyên thâm về học thuật Đông-phương thụ đắc của tiền nhân. Từ năm 1976, ông làm việc cho Ủy-ban y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Asiatique), viết tắt là CMFA. Lúc đầu, ông là thông dịch viên, rồi tổng thư kư, rồi trưởng phái đoàn. Mỗi năm ông theo phái đoàn Pháp sang Trung-quốc trao, tức giảng dạy ; đổi tức học. Trong những dịp như vậy, ông thu xếp để có thời giờ vào các thư viện, viện bảo tàng khắp các tỉnh phía Nam Trung-quốc, nghiên cứu về lịch sử Hoa Việt. Thành công lớn. Ông đă công bố trong những tác phẩm của ông, 34 quyển, với 13 ngàn trang.

Đặc biệt khi sưu khảo tài liệu viết bộ Anh-hùng Đông-a này, ông không dựa vào Ủy-ban y học Pháp-Hoa được nữa. V́ vùng nghiên cứu không phải là lănh thổ Trung-quốc. Cho nên chúng tôi quyết định trợ cấp cho ông : Phí khoản chuyên chở, ẩm thực, cư trú, máy móc, nhân viên, thông dịch. Ông đă đi gần khắp lănh thổ Mông-cổ, Bắc-Hàn, tới tất cả những vùng mà Mông-cổ chinh phục từ Á, sang Âu. (4)

Quân Mông-cổ do tướng Triết Biệt cùng vương tử Truật Xích đă dùng một con đường băng qua núi cao Borohoso Shan (Ba-la-khoa hiệp sơn), Tien Shan (Thiên-sơn) 7000 thước giữa mùa đông tuyết phủ, lạnh - 30 độ C ; để đánh vào hậu quân của hoàng đế Ala-Ed Din Mohammed. Một số các sử gia không tin rằng quân Mông-cổ có thể thực hiện được cuộc tiến quân này. Giáo-sư Trần Đại Sỹ lại tin là có. Để giải quyết nghi vấn, ông đă thử đi con đường này, cũng vào mùa Đông. Kết quả, ông thành công. Nhưng trong cuộc di chuyển này, một tai nạn suưt nữa ông cùng bốn đồng nghiệp, hai hướng dẫn viên, ba nhân viên kỹ thuật, ba thông dịch viên, bẩy nhân viên phục dịch bị chết ...đói. Cũng may phái đoàn có máy truyền tin liên lạc, rồi trực thăng đă tiếp tế lương thực. (5)

Vậy viện Pháp-á trân trọng giới thiệu với quư độc giả đoạn đầu bộ Anh hùng Đông-a, mang tên Dựng cờ b́nh Mông, và nhiệt liệt khen ngợi giáo sư Trần Đại-Sỹ về tài năng, nhất là về sự cố gắng phi thường của ông.

Paris ngày 8 tháng 12 năm 1998.
Giáo-sư Pape Vareilla.
Viện trưởng viện Pháp-Á,
kiêm trưởng khoa Việt-học.

Chú giải

(1) Vua Lư Nhân-tông không có hoàng nam. Niên hiệu Hội-tường Đại-khánh thứ 8 (1117), tháng 10, nhà vua nhận con trai của các hầu: Sùng Hiền, Thành Khánh, Thánh Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng làm con nuôi. Khi vua băng, truyền ngôi cho con Sùng Hiền hầu là Lư Dương Hoán (1127), tức vua Lư Thần-tông. Năm 1138, vua Thần-tông băng, trong khi Thái-tử Thiên Tộ mới có 3 tuổi, triều thần nghị tôn con của Thành-Quảng hầu là Kiến Hải vương Lư Dương Côn, đă 24 tuổi, thông minh, tái trí, nhân từ lên làm vua. Nhưng cuối cùng bọn Từ Văn Thông, Đỗ Anh Vũ nhất định theo di chiếu lập Thiên Tộ lên ngôi, tức vua Lư Anh-tông. Tuy việc đă qua, nhưng sinh mẫu nhà vua là Cảm Thánh thái hậu, mới 22 tuổi, thấy con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng là mối lo, bà mưu với t́nh nhân là Đỗ Anh Vũ, vu cáo cho các hầu mưu phản, rồi sai quân vây bắt cả nhà đem giết. Bấy giờ Kiến Hải vương đang là Đô-đốc thủy quân, trấn ở Đồn-sơn được mật báo. Ông đem tông tộc xuống hạm đội, trốn sang Cao-ly xin kiều ngụ. C̣n ba hầu Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng, bị giết cả nhà. Số người chết lên tới hơn năm ngh́n! Lư Dương Côn trở thành nguyên tổ của một tộc Lư tại Đại-hàn.

Năm 1226, dưới triều Trần, v́ sợ Trần Thủ Độ "nhổ cỏ phải nhổ tận rễ", con út của vua Lư Anh-tông là Thái-sư thượng trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh Đại Đô-đốc, Kiến B́nh vương Lư Long Tường, lại đem toàn bộ tông tộc 6 ngh́n người xuống hạm đội lưu vong, rồi cũng trôi dạt tới Cao-ly, nay là Đại-hàn. Ông là nguyên tổ của tộc Lư thứ nh́ tại Hàn-quốc.

Được sự trợ giúp tài chính của viện Pháp-á, giáo sư Trần Đại-Sỹ đă sang Đại-hàn, cả Nam lẫn Bắc, nghiên cứu về hai gịng họ Lư. (Xin xem phụ lục AHĐA quyển 3, Nguyên-tổ họ Lư tại Hàn-quốc).

(2). Tất cả các bộ sử như ĐVSKTT, VSL, TS, MCMS đều không chép khi Ngột-lương Hợp thai đem quân đánh Đại Việt lĩnh chức ǵ. Duy ANCL, Lê Tắc chép y lĩnh chức Thái-sư. Lê Tắc với Ngột-lương Hợp-thai sống đồng thời, nên giáo sư Trần Đại-Sỹ tin Lê hơn, chép y lĩnh chức Thái-sư. Chúng tôi cũng tin như vậy.

(3). Trên vịnh Hạ-long, hiện nay có hằng trăm ngh́n ngư dân sống bằng thuyền. Họ rất giỏi thủy tính. Trẻ con ba tuổi đă biết bơi. Từ sáu bẩy tuổi cho đến...trăm tuổi, dù sóng gió, dù thuyền nhỏ, họ có thể đi lại như trên đất liền, mà không sợ bị say sóng, không sợ bị ngă. Theo những ngư dân kể lại với chúng tôi và giáo sư Trần Đại Sỹ th́ tổ tiên họ sống trên biển như vậy từ thời lập quốc. Tôi đă được họ biểu diễn: Tung mấy bé trai từ 4 tới 6 tuổi xuống biển. Ngay lập tức các bé trai nổi lên, bơi như con cá voi, miệng cười khúc khích, đùa vui với nhau. Hỏi với sắc dân đó, tuyển họ vào thủy-quân, th́ thủy quân nào thắng nổi họ!!!

(4). Phái đoàn gồm có : Trưởng phái đoàn, giáo sư Trần Đại Sỹ, trưởng khoa Sinologie (Pháp). Giáo-sư Henri Pontalet, Mông-cổ học (Pháp). Kỹ-sư Jean Marc Zimmemann, địa chất học (Thụy-sĩ). Giáo sư Shikata John (Hoa-kỳ) nhân chủng họ. Kỹ-sư Mac Frederman (Úc) Khí tượng học. Phái đoàn đă đi qua các nước : Trung-quốc (Nội-mông, Tân-cương, Tây-tạng), Mông-cổ, Liên-sô, Irak, Iran, Syrie, Afhhanistan, Thổ-nhĩ-kỳ, Ba-lan, Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Bảo-gia-lợi, Ba-tư, và Đức. Tổng cộng chuyến đi nghiên cứu này là 48 ngày, với phí tổn là một triệu bẩy trăm ba mươi ngh́n USD.(1.730.000 USD).

(5) Sự kiện này xẩy ra như sau: Hướng đạo viên nói rằng, thời gian đi ngựa để vượt qua rặng núi kia là 16 ngày. V́ vậy phái đoàn chỉ mang theo lương thực 20 ngày. Thế nhưng trong khi đi, phái đoàn dừng lại dùng máy trắc nghiệm độ cao, độ dầy của tuyết, t́m kiếm những vũ khí nằm dưới lớp đất. Thành ra tới ngày thứ 18 th́ hết lương, mà bấy giờ phái đoàn đang ở đỉnh cao nhất của núi. Trở lại, hay đi tới cũng phải mất hơn mười ngày. Phái đoàn dùng máy truyền tin cầu cứu, ba ngày không kết quả, v́ băo tuyết. Phái đoàn đă phải nhịn đói sang ngày thứ nh́, th́ may mắn thay, một phi cơ hàng không bay qua, nhận được tín hiệu cầu cứu. Viên phi công trưởng mới báo xuống đất. Và trực thăng được xử dụng để chở thực phẩm tiếp tế. Trong khi tiếp cứu cho phái đoàn của giáo sư Trần Đại Sỹ, chúng tôi lo lắng cho ông, lên ruột v́ ông, th́ khi về Paris an toàn, ông c̣n nói bướng: Số Tử-vi của tôi không bao giờ bị chết đói.
Đúng là Việt-Nam dị nhân!