Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

ANH HÙNG ĐÔNG A DỰNG CỜ B̀NH MÔNG

 

 

Ba cuộc chiến thắng Mông-cổ

Ba cuộc b́nh Mông tộc Việt

Một đoạn ngắn gia phả họ Trần

Thư tịch về Mông-cổ

Quyển I

Quyển II

Quyển III

Quyển IV

Quyển V

 

 

In ra

MỘT ĐOẠN NGẮN
GIA PHẢ HỌ TRẦN

 

Dịch nghĩa

Từng nghe rằng:
Thấy muôn núi trùng trùng, điệp điệp mà xét đến tột cùng ngọn núi Tu Di(1). Xem thấy sông lạch mênh mông mà suy tận cùng đến tinh tú. Thế nên nhà phải có gia phả, cũng như nước phải có sử sách, đó là điều thật không thể thiếu vậy?

Xưa, các triều đại của nhà Ngu, nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu, sự liên quan trong gịng họ mỗi đời đều thấy rơ.

Gịng dơi họ Trần nhà ta, nguồn gốc từ Mân-châu (2) trước chọn đất An-sơn (Nay thuộc huyện An-hưng, tỉnh Khánh-an), sau di xuống làng Tức-mặc. Ông tổ tên Hồng-Phúc (3), nhờ tích đức, lũy nhân, nên tiếp nhận được thế đất Thái-đường (Nay thuộc xă Thái-đường, huyện Hưng-nhân, tỉnh Thái-b́nh).

Ngôi đất ấy, sách Phong-thủy gọi là
"Liên hoa kết nhụy, dĩ nhan sắc đắc thiên hạ"(4)

Về sau, quả nhiên đức Trần Thái-tông (Thuộc chi thứ trong họ) được họ Lư truyền vị, lên ngôi báu, trải 14 đời vua. Nếp nhà nhân hậu, con cháu phồn vinh, thịnh vượng. Há bảo rằng : Không thể lường máy tạo, khó tính nổi mệnh trời, đầy dẫy sóng cuồn cuộn, để đạt thành sự nghiệp từ ngàn xưa đến ngàn sau.
Kế đến, gịng họ dời về cư ngụ tại phường Hà-khẩu, đất Hà-thành, cũng đời đời ǵn giữ nếp nhà, nên hàng sĩ phu, quan lại, nay chính là họ Đặng-Trần đó. (5)

Chi trưởng họ nhà ta, trung hiếu nề nếp, kính giữ thần chức. Thời kỳ nhà Trần đang thịnh th́ nếp nhà vinh hiển, cùng gánh vác chia sẻ lẽ hưng suy của Xă Tắc....(6)


Chú giải

(1) Tu-di, ngọn núi không có trên địa cầu. Thấy thuật trong kinh Phật. Ở đây, ư muốn nói: Nguồn gốc của các ngọn núi trên thế gian.

(2) Thời An Dương vương, vùng Nam-hải bị Triệu Đà chiếm, Phương-chính hầu Trần Tự Minh, di gia thuộc xuống vùng Giao-chỉ.

(3) Hồng Phúc là tên thụy của Trần Tự Kinh, sau được truy tôn là Mục-tổ hoàng đế (1103-1190).

(4) Nghĩa là hoa sen kết thành nhụy. Nhờ nhan sắc mà được thiên hạ. Ư chỉ con gái Nguyên-tổ Trần Lư là Trần thị Kim Dung, kết hôn với vua Lư Huệ-tông, mà cháu là Trần Cảnh được Lư Chiêu-hoàng tuyển làm chồng, rồi được nhương ngôi.

(5) Khi bị giặc Hồ Quư Ly cướp ngôi. Con cháu các vua Trần phiêu bạt khắp nơi, trốn tránh. Đổi họ thành Đặng, khi họ Hồ bị quân Minh bắt, một số đổi ra họ Đặng Trần.

(6)
Chi trưởng chỉ con cháu An-sinh vương Trần Liễu với các vị Hưng-ninh vương Trần Quốc Tung, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Vũ Thành vương Trần Quốc Doăn.

Bài tán của Tŕnh Quốc-công Nguyễn Bỉnh Khiêm,
khi đọc gia phả Trần tộc.

Phiên âm

Đông-sơn chi dương,
Húc nhật hoàng hoàng,
Căn thâm phái dẫn.
Thịnh truyền mỹ chương,
Liên chi quỳnh cán,
Dịch tự thư hương.
Phong hùng hải biểu,
Vũ nhuận phân hương.
Lan giai dụ ấm,
Quế tịch đằng phương.
Phúc điền lợi ích,
Nhân trạch an khang.
Cầu đồ thư bảo,
Tần vi thi chương.
Ư kim vi liệt,
Chấn cổ hữu quang.
Trắc giáng cụ nhĩ,
Tại thượng, tại bàng.
Ái như nhập hộ,
Tư hồ đăng đường.
Nghĩa thâm truy viễn,
Tố tự Thiên-trường.
Ô! Hoàng ngọc phổ,
Đỉnh Hạ, đôn Thương.


Tŕnh Quốc-công,
Cổ-am Bạch vân Nguyễn tiên sinh
bái tán

Dịch

Ấm phủ non Đông,
Mặt trời rực rỡ,
Rễ sâu lan tỏa.
Nền thịnh sáng hồng!
Gốc quỳnh liền cành,
Thư hương tiếp nối,
Gió hùng biển cả.
Mưa nhuận thôn trang,
Thềm lan ôm ấp,
Vườn quế ngát hương.
Phúc điền sinh lợi,
Nhân trạch an khang.
Đồ thư quư báu,
Thi chương thơm lừng.
Nay vẫn rạng rỡ,
Nguồn sáng chấn hưng.
Trắc giáng đă đủ,
Ở trên, ở dưới,
Phảng phất vào cửa,
Suy niệm đăng đường.
Nghĩa sâu truy xa,
Từ cung Thiên-trường.
Ôi ! Hoàng ngọc phổ,
Đỉnh Hạ, đôn Thương

Tŕnh Quốc-công Bạch-vân
tại làng Cổ-am
bái tán.

Chú giải

(1). Hưng-Đạo vương có bốn vương tử, đều là đại tướng lập nhiều công trong cuộc chống Mông-cổ lần thứ nh́ và ba. Cả 4 đều được phong vương, có thái ấp riêng: Hưng-Vơ vương, Hưng-Nhượng vương, Hưng-Hiến vương, Hưng-Trí vương. Cho đến nay, dù mất nhiều công sưu tầm, tôi cũng không t́m ra di duệ của Hưng-Trí vương. Bài tán này, tôi thấy trong hầu hết các gia phả thuộc gịng Hưng-Vơ, Hưng-Nhượng, Hưng-Hiến vương. Không biết Tŕnh Quốc-công Nguyễn Bỉnh Khiêm đă làm năm nào?

(2). Non Đông để chỉ núi Thái-sơn, ư nói công đức sinh thành của tổ tiên. Nhưng sườn non Đông ở đây có nghĩa: Sườn có nghĩa là chữ phụ. Chữ phụ với chữ Đông thành chữ Trần.

(3) Thiên-trường, tên một trấn, nơi phát tích của gịng họ Trần. Nay thuộc Nam-định và Thái-b́nh.

(4) Đỉnh Hạ, nhà Hạ bên Trung-quốc, khi thống nhất thiên hạ, đă đúc chín cái đỉnh tượng trưng cho chín châu, để ở kinh đô,tỏ rơ quyền đế vương. Đôn Thương: Nhà Thương nối tiếp nhà Hạ, đúc chín cái đôn, để chín cái đỉnh của nhà Hạ lên trên, tượng trưng nhà Thương kế tục nhà Hạ, làm chủ thiên hạ.

Toàn ư câu này muốn nói, triều Trần do đức mà được Thiên-hạ.