Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ

HỐI 52

 

Quyển I

Quyển II

Quyển III

Quyển IV

Quyển V

 

In ra

 

 HỒI THỨ NĂM MƯƠI HAI


VĂN NGHỆ THỜI ĐÔNG-A

 

Vũ Uy vương khoan thai thuật:

– Mẫu thân anh họ Mai, tên Đông Hoa, xuất thân làm con hát ở phường Tây hồ.

Vua Thái Tông gặp bà Mai Đông Hoa trong trường hợp nào? Đây là mối diễm t́nh được ca tụng đẹp nhất triều Đông A, được huyền thoại cho đến nay. Tra trong các bộ sử th́ không hề thấy nói đến, nhưng gia phả các chi họ Trần th́ chép đầy đủ.

Nguyên hồi Chiêu Thánh hoàng hậu Lư Chiêu Hoàng 19 tuổi vẫn chưa có hoàng nam. Thái sư Trần Thủ Độ ép nhà vua phế hoàng hậu xuống làm công chúa, rồi đem vương phi của An Sinh vương Trần Liễu vào cung v́ vương phi đă có thai ba tháng (1237). Nhà vua buồn rầu, thường giả làm nho sinh, cùng viên thái giám thân tín tên Đại Lực trốn ra ngoài thành Thăng long thăm dân cho biết sự t́nh. Một lần người tới phường Tây hồ chơi, vào một Quán văn.

Chủ quán thấy một thiếu niên anh tuấn, thân thể hùng vỹ, cùng một gia nhân theo hầu, thân thể to như ông hộ pháp. Cả hai đi ngựa, trang phục như nho sinh, th́ biết đây là giới tao nhân mặc khách. Ông vội vàng ra mời vào.

Trong quán có một kệ xếp rất nhiều sách. Giữa quán một lư hương khói tỏa hương thơm ngát. Khách khá đông, hơn trăm ghế ngồi gần như kín hết. Tất cả đang nghe một thầy đồ giảng sách. Thầy đồ say xưa thuật đoạn bà Trưng Nhị cùng cùng các nữ tướng Hồ Đề, Trần Năng, Phật Nguyệt, và nam tướng Lại Thế Cường đánh chiếm Trường sa. Đến chỗ bà Trần Thiếu Lan tử trận, thầy ngừng lại:

– Hôm nay xin ngừng ở dây. Ngày mai tôi sẽ thuật tiếp đọan vua Trưng cùng 162 anh hùng họp nhau tại Mê linh tuyên bố khởi nghĩa.

Thính giả vỗ tay hết tràng này, đến tràng khác.

Thầy đồ chỉ tay vào chủ quán:

– Xin giới thiệu với chư vị, đây quán chủ. Quán chủ họ Lư tên Tín, là thầy đồ dạy học tại trường huyện Thọ xương.

Lư Tín chắp tay vái khách:

– Thưa chư vị hiền nhân quân tử. Sau mục kể truyện anh hùng, thiểm quán kính mời quư khách thưởng thức âm nhạc.

Một toán sáu người từ pḥng trong bước ra, gồm ba nam, ba nữ. Tất cả đều c̣n trẻ. Người đàn ông lớn tuổi nhất đánh trống mảnh. Hai người đàn ông c̣n lại, một người vỗ trống cơm, một người thổi sáo. Hai người đàn bà, một người kéo nhị, một người gảy đàn. Ca nhi là một cô gái, bên trong mặc áo cánh nhiễu tím, khoác ngoài áo tứ thân kết hai mầu hồng nhạt, xanh lá mạ non, dây lưng cũng hai mầu như áo; váy lụa đen dài che lấp chân. Khăn mầu tím, đuôi gà dài phía sau gáy. Cả toán nghiêng ḿnh chào khách, rồi ngồi lên chiếc sập.

Vừa trông thấy đào hát, nhà vua đă choáng váng, đó là một thiếu nữ tuổi khoảng mười sáu, mười bẩy, dáng người thanh lịch, nhan sắc diễm lệ. Mặc dù trong cung, nhà vua đă có hoàng hậu, nhiều phi tần là tiểu thư con các quan; triều đ́nh c̣n lệnh cho các phủ huyện tuyển những thiếu nữ đẹp nhất đem vào cung làm cung nga. Thế nhưng lần này nhà vua thấy một thiếu nữ có nhan sắc diễm ảo, như có như không; lại hát hay, th́ ngài rung động mănh liệt. Nhà vua than thầm:

– Tại sao trong hậu cung ḿnh không có những mỹ nữ như cô gái này? Tại sao trong ban nhạc Cung đ́nh của ḿnh không có những ca nhi giọng hát tuyệt vời như thế này?

Nhà vua nh́n cô gái như ngây, như dại. Giọng cô gái trong, nhuyễn như nhung. Cô vừa hát, vừa liếc mắt, nghiêng nghiêng đầu, sóng mắt long lanh. Thỉnh thoảng cô lại mỉm cười. Sau bản hát, cô cầm cái rá đi một ṿng xin tiền. Người người đều cho tiền. Thường th́ mỗi người cho một đồng, hai đồng. Thỉnh thoảng có người cho ba đồng. Khi cô gái tới trước nhà vua, nhà vua sờ tay vào túi, nhưng có bao giờ nhà vua tiêu tiền đâu mà mang theo? Cô gái thấy nhà vua móc hết túi ngày đến túi khác mà không có tiền th́ mỉm miệng cười chờ đợi. Cô cất tiếng hát:

Tây hồ sóng vỗ lăn tăn,
Quân tử như ánh trăng rằm đêm thâu.

Nhà vua quưnh quá, ngài tháo sợi dây chuyền bằng vàng đeo trên cổ, có mang tượng Quán Thế Âm bằng ngọc đỏ chói. Ngài nắm lấy tay nàng, đặt vào:

– Tiên cô ơi! Đây là kỷ vật của tôi, được một vị cao tăng tặng, với lời cầu nguyện rằng tôi luôn được đức Bồ Tát phù hộ. Nay tôi biếu tiên nga, cũng ước mong tiên nga được Quán Thế Âm che chở.

Xung quanh có hằng trăm người, ai cũng mở to mắt nh́n viên nho sinh hào phóng. Sợi dây ít ra đến hai lượng vàng, với tượng Phật bằng ngọc, rẻ ra cũng trên năm lượng nữa. Thời bấy giờ giá một lượng vàng là hai trăm quan tiền. Mỗi quan là sáu trăm đồng. Cô đi hát cả tháng may ra mới được một quan tiền. Bây giờ cô gặp một nho sinh hào phóng cho cô món quà quá lớn. Cô nh́n nho sinh: dáng người hùng vĩ, mặt đẹp như ngọc, tiếng nói uy nghiêm mà đầm ấm.

Cô gái c̣n đang ngỡ ngàng, th́ nhà vua đă đeo sợi dây vào cổ cô, rồi hỏi:

– Cô ơi, cô có thể cho tôi biết khuê danh được không?

– Dĩ nhiên là được! Đa tạ nhă lượng quân tử, em họ Mai, tên Đông Hoa. Để đáp lại tri âm em xin hát một bài nữa mong công tử ban cho nhất cố Chu Lang.

Tiếng nói của Đông Hoa thanh tao, nàng c̣n biết dùng điển nhất cố Chu Lang, chứng tỏ nàng cũng thuộc giới bút mặc văn chương. Điển này như sau: thời Tam quốc bên Trung nguyên, Đại Đô đốc Ngô là Chu Du. Du lĩnh chức đô đốc khi c̣n trẻ, tính khí hào phóng, nhă lượng, cao trí, lại là một mỹ nam tử; Du rất giỏi âm nhạc. Tại tư dinh Du có một đội nhạc đến hơn trăm người, xử dụng đủ mọi thứ nhạc khí. Với hơn trăm âm thanh cùng vang lên, mà mỗi khi một người tấu lạc nhịp, hoặc sai, là Du biết ngay ai, ngồi chỗ nào, Du đưa mắt nghiêm khắc về phía người đó. Người nào tấu xuất sắc, Du hướng mắt về người ấy mỉm cười tỏ ư khen ngợi. V́ vậy sau này giới bút mặc văn chương dùng điển nhất cố Chu Lang để chỉ tri âm, tán thưởng.

Nhà vua vốn là người tinh thông âm luật, không nhạc khí nào mà không xử dụng thành thạo. Nhà vua cầm ống tiêu đưa lên môi thổi. Âm thanh cao vút như ḥa vào những sợi tơ trời. Đông Hoa cương:

Em là con gái Thăng long,
Em nghiêng nghiêng nón, ấy y a, nước sông dạt dào.

Đông Hoa mời nhà vua về nhà chơi. Cha mẹ nàng vốn là nghệ nhân, nếp sống không khép kín như những gia đ́nh khác. Cả hai tiếp nho sinh với tất cả thịnh t́nh. Ông bà hỏi lư lịch, nhà vua xưng là nho sinh học trường Quốc tử giám tên Nhật Duy.

Từ đấy khi th́ hai ngày, khi th́ ba ngày, nhà vua lại ra nhà Đông Hoa tấu nhạc cho nàng hát.

Cạnh nhà Đông Hoa có một thầy đồ dạy học ở trường huyện Thọ xương tên Lư Tín. Thầy Tín rất uyên bác, đứng chủ trương quán văn Tây hồ. Thấy Đông Hoa hát hay, thông minh, lại có nhan sắc, ông dạy riêng Đông Hoa học tại nhà. V́ Đông Hoa đẹp, hát hay, nên nhiều khách đa t́nh thường lai văng tới quán văn Tây hồ cầu thân. Nhưng khi tiếp xúc với họ, ông thấy đó chỉ là những gă nhà giầu, hoặc công tử văn không thông, vơ không thành. Bây giờ thấy nho sinh Nhật Huy gần như thường trực tới quán văn Tây hồ dự các buổi giảng sách, nghe nhạc. Nhật Huy rất hào phóng với các thầy đồ giảng sách, cũng như những con hát. Nhật Duy lại hay tới nhà Đông Hoa chơi. Ông cho rằng Nhật Duy cũng thuộc phường tham dâm, hiếu sắc mà thôi, chứ không phải học sinh trường Quốc tử giám. Không chừng một công tử nào đó muốn bỏ tiền ra mua Đông Hoa.

Nhưng sau những lần gặp nhau, thầy Tín thấy dung quang Nhật Duy khác phàm, kiến thức bao la, hai người thường đàm đạo quốc sự, văn chương, thi phú cho đến kinh Phật. Nhật Duy luận như mây trôi, nói như suối tuôn. Lư Tín khâm phục nho sinh Nhật Duy uyên bác. Ông khuyên cha mẹ Đông Hoa chiêu Nhật Duy làm rể.

Một bên là một ca nhi sắc nước hương trời, thuộc ṇi t́nh, hưởng tính lăng mạn của cha mẹ. Một bên tuy làm vua, đang độ 20 tuổi; nhưng từ bé bị giáo huấn trong lễ giáo khắt khe. Bây giờ được mang lốt nho sinh, bao nhiêu sợi dây luân lư ràng buộc bị cắt đứt.

Đông Hoa mang thai.

Giữa lúc đó nhà vua bận quốc sự hơn ba tháng không ra quán văn Tây hồ cũng như đến nhà thăm nàng.

Thời bấy giờ con gái chưa chồng mà mang thai, như một tin trấn động, như ngọn núi lửa nổ tung. Bố mẹ nàng sẽ bị làng xă bắt khoán, nhục nhă vô cùng. Thầy Lư Tín cho rằng Nhật Huy là phường hoa bướm, con nhà giầu, chơi hoa rồi vứt bỏ. Ông dẫn cha mẹ Đông Hoa đến trường Quốc tử giám kiện nho sinh Nhật Duy. Nhưng quan Quốc tử giám tư nghiệp tra danh sách, không có một học sinh nào tên Nhật Duy cả. Ông ra lệnh cho phủ thừa Thọ xương truy bắt Nhật Duy về hai tội: giả học sinh Quốc tử giám và thông dâm với gái chưa chồng mang thai.

Một buổi tối, nhà vua cùng viên Thái giám Đại Lực ra phường Tây hồ gặp Đông Hoa. Khi vừa tới sân nhà nàng, th́ một Ngũ (5 người) lính dàn ra bao vây. Tất cả được vơ trang đoản đao. Thầy đồ Tín, bố mẹ Đông Hoa và nàng cùng ra sân xem. Hai người lính vung đao bắt chéo nhau trước mặt nhà vua. Phản ứng tự nhiên, thái giám Đại Lực chĩa ngón tay chỏ điểm một cái. Hai thanh đao vuột khỏi tay hai người lính, bay lên cao, cắm vào thân cây muỗm.

– Không được vô phép!

Viên thái giám quát lên rồi vung tay một cái nữa, hai người lính bay ra xa ước hơn hai trượng, rơi xuống như tự nhảy lùi vậy.

Thấy thủ pháp của Đại Lực, viên Ngũ trưởng biết dù cả Ngũ của y cũng không địch nổi người này. Tuy vậy y cũng hô lên một tiếng, cả Ngũ phu vung đao vây quanh nhà vua. Y hỏi:

– Trong hai người, ai là nho sinh Nhật Duy xưng là học tṛ Quốc Tử Giám?

Đại Lực chỉ nhà vua:

– Là chủ nhân của tôi.

Giọng viên Ngũ trưởng có vẻ khách khí:

– Trông phong thái hai vị đều là người có lai lịch, sao lại đả thương binh lính của đức vua!

Đại Lực hỏi đám binh:

– Này các em, ta có làm em nào bị thương đâu mà Ngũ trưởng của các em bảo ta đả thương các em?

Y hỏi viên Ngũ trưởng:

– Người là Ngũ trưởng của Vệ Thọ xương, người phải biết luật chứ? Luật của đức vua rất nghiêm, khi muốn bắt một học sinh trường Quốc tử giám th́ ít nhất phải có sự chứng kiến của một vị Kinh diên quan! Các người đi bắt chủ nhân tôi, mà không có Kinh diên quan chứng kiến th́ là một điều sai luật. Các vị chưa xác định cái người mà người định bắt có đúng là tội nhân mà quan trên muốn bắt không mà đă dùng đao đe dọa là hai điều sai luật. V́ vậy tôi phải chống lại.

Nói rồi Đại Lực vung tay lên liên tiếp, không ai nh́n rơ y ra chiêu ǵ, ḱnh lực ra sao, mà mỗi chiêu một người lính bay ra đường. Người nào cũng như bị nhắc lên rồi đặt xuống vậy.

Trong khi Đại Lực biện luận với viên Ngũ trưởng, th́ nhà vua vào nhà Đông Hoa. Nh́n sắc mặt cha mẹ nàng, Lư Tín, nhà vua thấy dường như họ có điều ǵ lo lắng. C̣n chính Đông Hoa th́ đang ôm mặt khóc. Nhà vua hỏi:

– Hoa! Cái ǵ đă xẩy ra?

Đông Hoa thuật lại thảm trạng trong ba tháng mà nàng phải chịu đựng, nồi nàng chỉ ra sân:

– Bây giờ Đại Lực lại đánh lính của phủ Thọ xương th́ tai họa sẽ vô cùng lớn lao!

Đại Lực trở vào đứng sau nha vuà. Y nh́n Đông Hoa mỉm cười:

– Cô ơi! Tất cả những ǵ cô nương coi là khổ ải, chủ nhân tôi sẽ giải quyết. Tôi nói thực cho cô nương biết một điều: hiện tất cả giai nhân trong nước đều ước mơ diện kiến chủ nhân tôi, dù chỉ một lần, mà không bao giờ toại nguyện. C̣n cô nương, cô nương được sủng ái cùng cực, mà cô nương không biết.

Đông Hoa vẫn không yên tâm:

– Trước mắt, tôi đang bị làng bắt khoán, v́ gái chưa chồng mà chửa. Tiền đâu tôi nộp cho làng? Bây giờ làng xóm chê cười, tôi làm khổ cha mẹ tôi...

Đến có tiếng trống, thanh la dẹp đường, rồi bốn thị vệ hộ tống một vị văn quan ngồi trên kiệu tới. Ngũ binh cũng trở lại. Viên quan hỏi Ngũ trưởng:

– Người xưng là Nhật Duy, học sinh trường Quốc tử giám đâu?

Viên Ngũ trưởng chỉ vào trong nhà:

– Bẩm Thái phó, cái người trẻ quay lưng lại kia là Nhật Duy, c̣n cái người khoanh tay đứng hầu sau Nhật Huy đă đánh bọn tiểu nhân.

Viên Kinh diên quan vừa trông thấy Đại Lực th́ thất kinh:

– Đại... đại... Lực Tổng Công công! Sao, sao?

Đại Lực xua tay ra hiệu, ngụ ư xin đừng nhiều lời, rồi chỉ vào nhà vua, lên tiếng:

– Kính chào Phạm sư phó. Chủ nhân của tiểu nhân là Nhật Duy, đang bị lính của phủ thừa Thọ xương bắt tội. Sư phó là thầy của chủ nhân, xin sư phó phát lạc vụ này cho.

Vị Kinh diên quan đó là Phạm Kính Ân, hiện là Quốc tử giám tế tửu, lĩnh chức Thái phó, thường giảng sách cho nhà vua. Tước của ông tới Công. V́ ra vào hoàng cung thường ngày, nên ông đă gặp quan Tổng Thái giám Đại Lực. Theo quan hàm th́ tước Công, lĩnh hàm Thái phó, kiêm Quốc tử giám tế tửu của ông cao hơn tước Hầu, Tổng thái giám năm bậc. Nhưng quan xa, không bằng lính gần. Đại Lực luôn hầu cận nhà vua, nên được nể nang hơn. Hôm nay ông nghe báo có một người xưng là học sinh Quốc tử giám, thông dâm với con gái lương dân, lại dám chống lại lính của phủ thừa Thọ xương. Ông phải đích thân bắt người giả học tṛ Quốc tử giám ấy. Không ngờ tới đây, chỉ cần thấy Đại Lực, th́ ông biết người xưng là nho sinh Nhật Duy chính thị đức vua. Trong những lần giảng sách cho nhà vua, ông từng nghe nhà vua thuật lại nhiều lần ra ngoài Kinh thành thăm dân cho biết sự t́nh. Vốn cực kỳ thông minh, ông biết ngay người xưng nho sinh Nhật Duy, chính là nhà vua.

Ông vẫy tay cho bốn viên thị vệ, cùng Ngũ lính Thọ xương:

– Các người lui ra, canh gác bên ngoài! Mọi việc ở đây do ta phát lạc.

Nhà vua chỉ Đông Hoa rồi vái Phạm Kính Ân:

– Thưa thầy, con với tiểu cô nương đây quả có chút duyên giai ngẫu. Mong thầy tác thành cho.

Phạm Kính Ân biết nhà vua là người quang minh, thượng tôn luật pháp, ngài muốn ông xử vụ này như xử học sinh Quốc tử giám thực. Ông chỉ nhà vua:

– Vị này là một quư nam tử, học tṛ của tôi, địa vị tôn quư, không phải phường tham dâm, hiếu sắc. Con gái ông bà không chọn lầm người đâu.

Ông vẫy một viên thị vệ:

– Người gọi Đại tư, Trương tuần xă Thụy hương đến gặp ta gấp.

Chú giải,

Quốc tử giám, Đại học Hoàng gia, được thành lập đầu tiên vào thời vua Lư Nhân Tông (1070), để dạy con, cháu nhà vua, con các đại thần. Trường cũng dành cho những học sinh ưu tú ngoài dân dă vào học, chuẩn bị thi Thái học sinh (Tiến sĩ). Học chế đời Trần như sau: mỗi làng, xă đều có thầy đồ dạy học hoặc ăn lương vua, hoặc không. Những học sinh xuất sắc làng-xă được tuyển vào học tại trường phủ-huyện. Mỗi phủ-huyện có một hay hai học đường. Học đường thiết lập ngay trước nha môn (văn pḥng huyện). Nhà vua ban sắc chỉ bổ nhiệm những nho sĩ có văn tài lĩnh chức Huấn đạo phụ trách học đường. Chức Huấn đạo uy quyền rất lớn, ngang với quan phủ-huyện. Thầy dạy tại học đường song song với vị Huấn đạo, c̣n có rất nhiều các thầy của làng xă. Vị Huấn đạo ngoài việc phụ trách giảng dạy học sinh, c̣n trách nhiệm trông coi việc thi hành giáo dục dân chúng, bảo vệ luân lư, lễ nghi, phong tục trong quản hạt.

Những học sinh phủ-huyện giỏi, được tuyển vào Quốc tử giám học, chuẩn bị thi Thái học sinh. Học sinh học Quốc tử giám được triều đ́nh nuôi, đài thọ ăn ở. Khu Quốc tử giám nay là khu Văn miếu Hà nội.

Quốc tử giám tế tửu, tức Viện trưởng Đại học hoàng gia. Thường th́ quan Thái phó kiêm nhiệm.

Kinh diên quan, giáo sư trường Quốc tử giám. Vị này c̣n phụ trách giảng sách cho nhà vua. Tức ông thầy của vua.

Đại tư, chức quan đời Trần, do dân một xă bầu lên, rồi được triều đ́nh ban sắc công nhận. Tương đương với ngày nay là chủ tịch hội đồng nhân dân xă.

Trương tuần, chức quan đời Trần coi về pḥng vệ, an ninh xă. Chức này do quan phủ hay huyện bổ nhiệm. Tương đương với ngày nay là chỉ huy dân quân xă kiêm trưởng Công an xă.

Viên Thị vệ vừa quay ra th́ Đại tư, Trương tuần xă Thụy hương đă tới. Hai người thấy Phạm Kính Ân th́ vái dài:

– Tiểu nhân xin ra mắt Thái phó.

Phạm Kính Ân cho hai người ngồi, rồi ông chỉ nhà vua với Đông Hoa:

– Tôi lĩnh Quốc tử giám Tế tửu. Tôi tới đây v́ mối lương duyên của một học sinh với giai nhân xă Thụy hương. Tôi xin đứng ra tác thành cho mối lương duyên này. Tuy nhiên Nhật Duy với Đông Hoa đă phạm lỗi, v́ chưa cheo cưới mà đă gần nhau đến mang thai. Phép vua, thua lệ làng, vậy Đại tư cho biết, xă sẽ phạt như thế nào?

Đại tư chắp tay:

– Về cô gái, sẽ bị bắt khoán 15 quan tiền, bị đánh 20 roi mây giữa chợ. Nếu cô gái có tiền nộp thêm 5 quan th́ miễn đánh đ̣n.

– Vậy c̣n người con trai?

– Nếu là con trai trong xă phải làm việc công 20 ngày. Nếu có tiền nộp thay thế th́ phải 10 quan. C̣n con trai xă khác, bắt buộc nộp phạt 20 quan tiền.

Kính Ân tuyên án :

– Nho sinh Nhật Duy đă trên 20 tuổi, nhà lại khá giả, phải nộp khoán cho ḿnh và cho Đông Hoa. Tổng cộng 40 quan tiền. Nhưng v́ là học tṛ giỏi bậc nhất trường Quốc tử giám, nên phải nộp khoán gấp đôi, tức 80 quan tiền.

Tổng Thái giám Đại Lực móc trong túi ra một lượng vàng trao cho Đại tư :

– Thôi th́ tôi xin nộp một lượng vàng thay chủ nhân. Một lượng ăn 200 quan tiền. Như vậy dư ra 120 quan. Trong xă Thụy hương có đền thờ thánh Chèm, tôi xin gửi 120 quan nhờ xă tu bổ đền thờ ngài.

Đại tư tiếp vàng, ḷng mừng chi siết kể.

Phạm Kính Ân hỏi bố mẹ Đông Hoa :

– Sự cố của con gái ông bà quả có làm ông bà phiền ḷng, nhưng đây là mối lương duyên giai ngẫu giữa danh sĩ với giai nhân. Thời Lư, vua Thánh Tông chẳng từng thăm dân rồi gặp một giai nhân, sau ngài phong cho giai nhân ấy tước Ỷ Lan phu nhân đó sao ? Ỷ Lan sinh ra vua Nhân Tông, vua tôn mẫu hậu là Linh Nhân hoàng thái hậu. Truyện cũ sáng như trăng rằm. Bây giờ Nhật Duy với con của ông bà như ván đă đóng thuyền, gạo đă thổi thành xôi, ông bà có bằng ḷng gả Đông Hoa cho Nhật Huy không ?

 

Đền thờ thánh Chèm (Lư Thân) tại xă Thụy Hương, Hà nội (H́nh VN santé)

– Đa tạ sư phó tác thành cho.

– Ông bà có đ̣i dẫn cưới ǵ không ?

– Được rể quư, tôi xin cho không cháu Hoa.

– Đông Hoa đẹp đến như thế kia, lại đàn ngọt, hát hay th́ đáng xây nhà vàng cho ở ; cho không thế nào được. Lễ dẫn ít ra ngh́n lượng vàng, ngh́n tấm lụa, trăm thúng gạo, chục trâu ḅ.

– Dạ quá... lớn, sợ phúc đức nhà tôi không tới.

Phạm Kính Ân bấm đốt ngón tay :

– Ngày 3 tháng sau là ngày tốt. Ông bà đợi Nhật Duy chuẩn bị, dẫn cưới rồi sẽ xin rước dâu.

Tối hôm đó nhà vua về Hoàng thành. Ngài biết Thái hậu (bà Trần Thừa) không thể chấp nhận cuộc hôn nhân này. Nhà vua t́m đến cung Tuyên minh thái hoàng thái hậu (bà Trần Lư, bà nội nhà vua), thú thực về truyện Đông Hoa. Tuy uy quyền của Thái hậu hiện tối cao trong cung, nhưng bà chỉ có thể đón Đông Hoa về, cho ở chung trong cung của bà, lĩnh chức Tu dung, một đẳng cấp rất thấp chỉ trên cung nữ một bậc. Thân phận Đông Hoa trong hoàng cung quá nhỏ bé, song nàng được nhà vua sủng ái cùng cực. Nàng được trao cho cai quản đội nhạc cung đ́nh.

Ít tháng sau, Đông Hoa hạ sinh một hoàng nam. Hài nhi da trắng, môi hồng, mười phần tươi đẹp. Toàn hậu cung vui mừng. Nhà vua lấy tên Nhật Duy trong kỷ niệm mối t́nh với Đông Hoa đặt tên cho con. Tuy nhiên không ai dám bàn truyện lập Nhật Huy làm thái tử. Ba năm sau Thuận Thiên hoàng hậu sinh hoàng nam, nhà vua đặt tên là Nhật Hoảng, phong làm Thái tử. Rồi nhà vua có thêm nhiều hoàng nam.

Nhờ được Tuyên minh thái hoàng thái hậu dậy văn, luyện vơ, nên vơ công của Nhật Huy cao nhất trong các anh em. Năm Nhật Duy 13 tuổi, được mở phủ đệ riêng, được phong tước Thái tử thiếu bảo, Đồng b́nh chương sự, Phụ quốc thượng tướng quân, tước Vũ Uy vương, trao cho trấn ngự Tây Bắc cương.

Sau trận đánh với Ngột Lương Hợp Thai, công lao của vương chỉ thua có Hưng Đạo vương, Hưng Ninh vương. Nguyên Phong hoàng đế lấy cớ tử quư mẫu vinh (con quư th́ mẹ vinh hiển) thăng Tu dung Đông Hoa lên hàm Tuyên phi, tức vượt 18 bậc.

Tuyên phi được nhà vua sủng ái nhất trong tất cả các phi tần. Bởi ngoài t́nh vợ chồng, giữa nhà vua với phi c̣n là tri kỷ, tri âm. Khi phi hát th́ nhà vua kéo nhị, đánh trống mảnh, trống cơm; lại có khi nhà vua thổi sáo. Hồi mới nhập cung, phi được nhà vua truyền xây cho một cung riêng. Nhưng tính giản dị, lại sống trong dân đă quen, phi xin Bộ Công cất cho ngôi nhà tranh, đỡ tốn công nho, tốn sức của dân. Nhà vua muốn có nơi cùng phi thưởng thức âm nhạc, ngài ban chỉ dựng một cái cḥi gỗ bốn mái lợp tranh. Phi lấy tên làng của mẹ là Thụy khê đặt cho ngôi nhà. V́ vậy trong hậu cung gọi ngôi nhà đó là cung Thụy khê.

Dù bận quốc sự, dù có nhiều phi tần khác, nhưng ít nhất ba ngày một lần nhà vua cũng đến cung Thụy khê nghe hát, tấu nhạc.

Từ khi Đông Hoa nhập cung, được nhà vua sủng ái, tiếng đồn ra ngoài. Trên toàn quốc nảy ra phong trào lập Quán văn. Từ kinh đô tới các trấn, các phủ, huyện nơi nơi đều lập Quán văn. Quán văn là nơi mà các văn nhân, thi sĩ, danh sĩ, tài tử, tới để cùng nhau xướng họa, ngâm vịnh. Quán văn cũng là nơi cho những tiểu thư, giai nhân đến treo bảng tuyển phu. Mặt khác Quán văn thường trực có những danh kỹ đến hát.

Vũ Uy vương, vương phi nhập cung giữa lúc nhà vua kéo nhị, Tuyên phi vừa hát vừa đánh trống mảnh. Cả hai vị như bị âm thanh đưa lên mây, nhập vào thế giới khác, đến nỗi con trai, con dâu đến bái biệt mà không biết.

Đối với Vũ Uy vương, t́nh trạng này, vương từng thấy từ hồi c̣n thơ ấu. Duy vương phi, phi chỉ thấy phụ hoàng ngồi trên lưng ngựa xung vào trận tuyến Mông cổ, hay uy nghiêm thiết triều giữa hai hàng văn vơ đại thần. Bây giờ phi mới được thấy con người nghệ sĩ trong một hoàng đế.

Bản nhạc dứt, Nguyên Phong hoàng đế chợt thấy hai con, ngài chỉ ghế:

– Các con ngồi đó đi. Ngày mai hai con lên đường, lĩnh trọng trách vô cùng trọng đại. Như hôm qua, trong buổi thiết triều đă định: các con được toàn quyền hành động, miễn sao đạt được mục đích:

Thứ nhất, gây chia rẽ trong hoàng tộc Mông cổ, khiến các Hăn đem quân tàn sát nhau. Gây chia rẽ giữa ngoại thích với hoàng tộc. Gây chia rẽ giữa triều đ́nh với hậu cung. Gây thù hận giữa quân Mông cổ với dân chúng.

Thứ nh́, giúp Tống chống với Mông cổ, khiến cuộc chiến Mông-Tống kéo dài, càng dài càng tốt.

Thứ ba, ngăn cản, tiêu diệt những kẻ chủ xâm lăng Đại Việt. Điều khẩn cấp làm sao cho Mông cổ bỏ ư định đánh Đại Việt.[/i]

Nhà vua hỏi Vũ Uy vương :

– Bắc cương chia làm hai khu vực. Khu Đông thuộc Ngũ yên giáp biển, và Quảng Tây. Trước đây là đất phong của An Sinh vương. An Sinh vương hoăng th́ Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương kế nhậm. Ta yên tâm. Khu Tây do con trấn nhậm mấy năm qua. Khu này phía Tây giáp với Lăo qua, không có ǵ đáng ngại. Duy khu Bắc, một phần giáp với Quảng Tây lộ của Tống, một phần giáp với Đại lư. Giữa khu ba biên giới có nhiều Bạc dịch trường (chợ biên giới). Đây là cửa thông giữa ta với Đại lư mang tên cửa Lê hóa, phủ Thiện xiển. Các khu đất này khi Tống mạnh th́ Tống thu thuế. Khi ta mạnh th́ ta thu thuế. Khi Đại lư mạnh, th́ Đại lư thu thuế. Vậy hiện ra sao?

– Tâu phụ hoàng, khi lên trấn nhậm, con thấy Tống yếu quá. C̣n Đại lư th́ bị Mông cổ chiếm. Bọn Mông­ cổ không để ư đến những khu đất mà dân không đông, tài nguyên chẳng có ǵ. Thần nhi nhân đó tiến quân vào, đặt đồn lũy kiểm soát, bổ nhiệm quan cai trị.

– Ta có đọc tấu chương của con. Trước đây Tống mạnh, họ cắt những khu đất hoang ở vùng ba biên giới cho bọn trôm cướp. Con phải nhân dịp ta mạnh, chống Mông cổ ở phía Nam cho Tống, đặt vấn đề với Tống, bắt Tống buông chúng, nhân đó ta tiến quân vào giết bọn tướng cướp, lập thành khê động phiên dậu cho ta.

– Con đă làm được một phần, đang làm một phần. Những châu, trang, động đó, con cho họ tự trị. Con chỉ kiểm soát tổng quát mà thôi. V́ vậy trong trận đánh vừa qua, Mông cổ tràn về Thăng long, coi thường các trang, động này. Chúng đâu ngờ họ chính là những đội quân gây cho Mông cổ muôn vàn khó khăn ; đường tiếp vận của Mông cổ không qua vùng đất của họ được. Mông cổ muốn đánh các trang động này, c̣n khó hơn đánh vào các xă ấp của ta. Khu mật viện Bắc biên luôn cho Tế tác thu lượm tin tức đầy đủ. Khi hội với Tống, con sẽ chiếm được thượng phong.

Nguyên Phong hoàng đế ngồi thẳng dậy, ngài ban chỉ bằng giọng nói hết sức tha thiết :

– Có ba khu vực, mà thời Lĩnh Nam thuộc cương thổ Việt, bây giờ một thuộc Đại lư, hai thuộc Tống. Khu vực tiếp giáp với Bắc cương của con là châu Chiêu dương. Khi anh hùng Tượng quân nổi lên lập ra nước Đại lư th́ châu Chiêu dương thuộc Đại lư. Hiện dân chúng khu này bẩy phần Việt, ba phần Hán. Con phải nhân Đại lư hàng Mông cổ. Mông cổ không có quân đóng ở đây ; mà tiến quân tái lập nền cai trị thành cương thổ Đại Việt.

– Con sẽ hết sức làm.

– Hai khu thuộc Tống gai góc nhất là châu Văn sơn, Khâu Bắc. Hai châu này nằm ở Bắc Chiêu dương, cách xa Bắc cương của con đến hơn 400 dặm (200 km). Thời Lĩnh Nam thuộc Giao chỉ. Khi vua Trưng tuẫn quốc, th́ Hán cho thuộc Tượng quận, rồi bây giờ thuộc Quảng Tây lộ của Tống.

– Ấy a ! Khó, quá khó ! V́ hai châu này được coi như một nước, chịu sắc phong của Tống. Hiện chúng hàng Mông cổ. Mông cổ có một Thiên phu đóng ở đây.

– Khó cũng phải làm cho được. Hai châu này đất đai trù phú. Trước kia là đất hoang. Tống đă cho bọn thổ phỉ họ Thân khai hoang, xưng láo là gịng dơi vua Lư Nhân Tông. Chúng lập thành triều đ́nh, gửi người về nước chiêu dụ con cháu họ Lư, chiêu dụ bọn vong mạng, bọn đầu trộm đuôi cướp lập hai khu thành một vương quốc. Dân số hiện lên tới hai mươi vạn người. Quân bộ của chúng tới năm vạn, quân kị năm ngh́n. Trong trận đánh vừa rồi, bọn này gửi tới hơn vạn thổ phỉ theo giúp Mông cổ.

Nhà vua nhấn mạnh :

– Khi điều đ́nh với Tống, ta đang ở thế mạnh : ta nói cho họ biết bọn giặc họ Thân được Tống cưu mang bấy lâu mà bây giờ chúng phản Tống, theo Mông cổ. Chúng như thanh gươm kề vào hông Tống. Ta yêu cầu Tống nhắm mắt để ta đánh bọn thổ phỉ cho Tống. Ta hứa trao cho họ hơn ngh́n cao thủ vơ lâm, ta lại đang tập hợp Hoa kiều thành một hiệu binh gửi sang trợ Tống. Dù Tống đồng ư hay không, ta cũng tiến quân vào diệt bọn thổ phỉ, sau đó ta sát nhập hai châu trở về với cương thổ Đại Việt.

– Thần nhi sẽ làm hết sức ḿnh.

Tuyên phi chỉ vương phi Ư Ninh :

– Con có người vợ thế này th́ con phải hứa với phụ hoàng rằng con sẽ thực hiện được việc thu hồi đất tổ ; chứ không thể hứa làm hết sức ḿnh.

– Thần nhi tuân chỉ của mẫu thân.

Tuyên phi tháo sợi giây chuyền có mang tượng Quan Thế Âm, mà nhà vua ban cho phi trong buổi gặp mặt đầu tiên đeo vào cổ con dâu:

– Đây là bảo vật phụ hoàng ban cho mẹ trong buổi sơ giao. Mẹ cho con, để vạn dặm trên đường bảo quốc, con sẽ được Quan Âm phù hộ. Hôm nay mẹ đă làm cơm cho các con ăn. Cơm chẳng có cao lương mỹ vị ǵ đâu: cà pháo mắm tôm, canh cua nấu với rau đay, rạm rang và chả rươi.

Phi dặn Vũ Uy vương :

– Vừa rồi Mông cổ vào Thăng long, chúng truy lùng bắt đi rất nhiều danh ca. Quán văn Tây hồ bị bắt 4 người. Quán Văn miếu mất 11 người. Quán Ngọc thụy bị 3 người. Quán Nghi tàm bị 8 người. Quán Tô lịch đau xót nhất, Tô lịch thất tiên bị bắt rồi mất tích. Khi con đi sứ hăy để tâm nghe ngóng xem có tin tức ǵ không. Nếu có, t́m mọi cách cứu các nàng đem về.

Sứ đoàn chính thức gồm năm người, Vũ Uy vương Trần Nhật Duy, vương phi Trần Ư Ninh, Vũ Sơn hầu Tạ Quốc Ninh đi bằng ngựa. Đoàn tùy tùng do Đô thống Trần Quốc Kinh (Dă Tượng), Nguyễn Địa Lô chỉ huy 30 Thiết kị Long biên hộ tống, 25 mă phu, đầu bếp, mười xe song mă chở y phục, vật dụng, lương thảo. Tất cả hướng bến đ̣ Bắc ngạn.

Giữa lúc sứ đoàn đang chuẩn bị lên đường th́ chú của Nguyễn Địa Lô từ trần. Vũ Uy vương cho Lô về chịu tang, rồi lên đường sau.

Thời Trần, thành Thăng long có năm cửa, bởi vậy trong bài ca dao Đố ai đă đặt câu hỏi :

Thành nào năm cửa chàng ơi ?

Do ảnh hưởng của ca dao, sau này thi sĩ Vũ Hoàng Chương lầm cửa ô với cửa thành, ông có câu thơ nhắc lại Hà nội có năm cửa ô như năm cánh ngôi sao. Hồi 1954, Văn Cao lại cũng lầm lẫn cửa ô với cửa thành trong bài hát Tiến về Thủ đô có câu Năm cửa ô đoàn quân tiến về.

Tại bốn cửa chính của thành Thăng long có tượng bốn vị thần trấn thủ. Hướng Bắc gọi là Kinh bắc, ngày nay bao gồm Bắc ninh, Bắc giang cho tới Lạng sơn, Cao bằng. Trấn đông gồm Hồng châu thượng, Hồng châu hạ, nay là vùng Hải dương, Hưng yên, Hải pḥng. Trấn nam gồm Sơn nam thượng, Sơn nam hạ, nay là Nam định, Hà nam, Thái b́nh. Trấn đoài gồm Hà đông, Hưng hóa, Ḥa b́nh, Sơn tây.

Kinh thành có 24 cửa ô, là cửa ngơ có đường thông ra bốn trấn. Ngày nay chúng ta c̣n nghe nhắc tới những tên như cửa ô Yên hoa (nay là Yên phụ), cửa ô Thạch khối (nay là Thạch tân), cửa ô Quan chưởng.v.v.

Bến đ̣ Bắc ngạn nối Thăng long với Gia lâm, nằm trên bờ sông Hồng. Nay ở phía Nam và Bắc cầu Long biên Hà nội. Bến đ̣ cắt ngang con đường Cái quan, giao thông giữa Thăng long với Kinh Bắc ; giữa miền Nam với miền Bắc Đại Việt. Cho nên dọc hai bên bờ, hàng quán, nhà trọ nối dài đến hai ba dặm (1 km- 1,5km), cung ứng nhu cầu ăn uống, chuyên chở, giải trí cho khách đi đường xa ; và cũng là nơi bán các sản vật địa phương. Bến Bắc ngạn quanh năm nhộn nhịp, dưới sông có hằng mấy trăm con đ̣ chở người, chở vật sang sông. Lại có những bang hội vận tải, chở khách từ Thăng long đi nội địa như Thiên trường, Kinh bắc, Tiên yên, Thanh hóa, Nghệ an và sang Trung nguyên, Chiêm thành. Trên mỗi con thuyền lớn chở khách sang sông, đều có những nghệ nhân tấu nhạc, ca hát giúp vui. Các nghệ nhân này sống nhờ tiền tặng của thính giả.

Sứ đoàn không qua sông bằng dân thuyền, mà được vận chuyển bằng hai chiến thuyền của Thủy đội Thăng long. Với 59 người ngựa thêm hàng chục xe song mă cần tới 10 lượt. Cuộc vượt sông ít ra phải nửa buổi. Vũ Uy vương ra lệnh cho Dă Tượng chỉ huy đoàn tùy tùng vượt sông trước. C̣n sứ đoàn sẽ sang sau.

Vừa hết chiến tranh, mà khu Bắc ngạn đă phục hồi. Mấy tháng trước, Kị binh Mông cổ không thể nào qua sông, v́ dân chúng tuân theo lệnh triều đ́nh, dấu ghe thuyền vào các kinh lạch. Nhưng nào ngờ tám bang hội Hoa kiều theo giặc, chúng t́nh nguyện chở quân sang sông. Chúng c̣n hiến kế cho giặc: dùng cường lực đến từng nhà chủ đ̣ bắt chở quân qua sông, bằng không sẽ đốt cháy hết các dẫy nhà hai bên bờ. Biện pháp này quả thực hiệu nghiệm, quân Mông cổ qua sông, vào Thăng long, do vậy nhà cửa hàng quán Bắc ngạn c̣n nguyên. Giặc vừa rút khỏi Thăng long, th́ các cửa hàng buôn bán lại mở cửa đón khách nhộn nhịp hơn xưa.

Quân dân đời Trần rất gần nhau. Người dân thấy đoàn người ngựa, gươm đao, giáp trụ sáng choang, hằng chục xe song mă qua sông; họ hướng mắt nh́n bằng vẻ thân thiết, rồi tránh sang vệ đường vẫy tay chào. Đám trai tráng c̣n bỏ công việc hàng quán, ra giúp quân, phụ mă phu đẩy những cỗ xe nặng nề.

Sứ đoàn đi sau đội Kị binh. Vũ Uy vương, Dă Tượng mặc quần áo nâu như nông dân. Tạ Quốc Ninh mặc như một nho sĩ. Vương phi mặc vơ phục của đệ tử phái Mê linh. Người ngoài cuộc tưởng bốn người với đội hộ vệ là hai nhóm người khác nhau.

Những đứa trẻ chào mời khách thấy bốn người cỡi ngựïa th́ ào tới nắm dây cương:

– Các ông ơi mua mía đi, mía ngọt lắm.

– Các chú ơi, mua bánh gai đi. Bánh gai Thiên trường vừa thơm vừa ngọt.

Cô bán bún chả tuổi khoảng hai chục, tay quạt, tay trở những xâu thịt:

– Mời khách quan xơi bún chả đi. Bún chả Thăng long thơm ngát, béo ngậy đi.

Một bà tuổi trên dưới bốn chục, ngồi trong quán đon đả:

– Chả rươi Thiên trường đi, rươi tươi làm với trần b́ chính tông, thơm ngon tuyệt trần. Không ngon, không lấy tiền.

Ngay sát mé sông là một Quán văn với tấm bảng sơn son thiếp vàng có bẩy chữ:

 Thiên Thư thính văn tụng phú quán,
(Quán sách trời, nơi đọc văn, tụng phú)

 Nét chữ sắc như gươm. Trước quán bầy mươi cành đào, mấy chậu cúc Vạn thọ, mấy chậu quất trái vàng óng ánh, hai ba cái vại lớn thả cá chép vàng. Giữa quán có một bàn thờ giản dị, một bài vị với bẩy chữ:

 Liệt tổ Đại Việt chi linh vị,

Cạnh bài vị, một lư hương, khói bốc nghi ngút. Trên bàn thờ bầy la liệt sách, có khổ lớn, có khổ nhỏ, có sách dầy, có sách mỏng. Trong quán có hốn hàng ghế, mỗi hàng năm ghế. Mỗi ghế ngồi được năm người. Khách khoảng gần trăm, đủ loại già, trẻ, nam nữ đang uống trà, nghe thầy đồ kể truyện.

Trên một vách ngang treo khá nhiều bút thiếp, vách đối diện treo hai cây cung của Mông cổ, một thanh đao, một thanh kiếm. Lại có chiếc sập, với năm nhạc công, một ca nhi ngồi chờ tấu nhạc.

Một trung niên nam tử, trang phục như nho sĩ, dường như là chủ quán, đứng trước cửa, tay cầm cành đào, hoa nở đỏ rực:

– Hoa đào Thụy khuê đây. Đào nở mừng chiến thắng Đông bộ đầu này. Mời quư khách vào quán trước xin xâm đầu năm, sau nghỉ chân, ngắm hoa, nghe thơ, thưởng thức âm nhạc.

Thấy sứ đoàn, anh ta mở to mắt nh́n, chau mày phỏng đoán, phân biệt xem bốn người là loại người nào? Nhưng dường như anh ta không đoán ra được.

Vương phi Ư Ninh thấy vui vui hỏi anh ta:

– Này anh! Anh mời chúng tôi mua hoa đào hay nghe âm nhạc? Anh cho biết cao danh quư tính đi!

Thấy một phụ nữ trẻ lưng đeo kiếm, mặc vơ phục, anh ta trả lời với ngôn ngữ khách khí:

– Thưa phu nhân kẻ hèn này chỉ là một nho sinh, th́ làm ǵ có danh mà cao, có tính mà quư. Xin phu nhân cứ gọi là Nho Lâm đi. Kính mời phu nhân vào quán xơi nước, trước nghe hát, sau mua đào.

– À! Th́ ra anh cũng thuộc hàng tao nhân, mặc khách đấy. Tôi hỏi anh câu này nhé: hoa đào là hoa đào, cứ xuân đến th́ đào nở, tại sao anh bịa ra rằng hoa đào nở mừng chiến thắng Đông bộ đầu? Anh nói điêu rồi.

Tất cả khách trong quán thấy có cuộc trao đổi thanh nhă, đều im lặng hướng mắt ra ngoài theo dơi.

Nho Lâm chắp tay vái dài:

– Thưa phu nhân, mọi năm phải cuối tháng giêng th́ đào mới nở. Thế mà hôm nay là ngày rằm, đào đă trổ hoa rực rỡ thế này đây! Như vậy là hoa nở để chào mừng chiến thắng, thực rơ ràng. Giá ba đồng một cành. Tôi không hề nói điêu.

Vương phi móc túi trao cho Nho Lâm ba đồng, rồi tiếp lấy cành đào:

– Ừ th́ anh không nói điêu. Nhưng anh nói sai rồi. Đại Việt chúng ta chiến thắng bẩy trận: Thảo nguyên, B́nh lệ nguyên, Phù lỗ, Cụ bản, Thăng long, Đông bộ đầu, Đồng văn. Trong đó Đông bộ đầu chỉ là một trận thôi. Vậy đào nở để mừng chiến thắng toàn quốc mới phải chứ!

Nho Lâm mỉm cười cố căi:

– Dạ thưa phu nhân, trong bẩy trận, th́ sáu trận lúc đầu ta thua, sau mới thắng. Chỉ duy trận Đông bộ đầu là ta toàn thắng mà không bại. Đây là Thăng long mà, Đông bộ đầu thuộc Thăng long nên thần sông Tô lịch, Thần hồ Tây, thần Trấn quốc sai đào nở sớm mừng chiến thắng Nam quốc sơn hà Nam đế cư đấy. Có phải không phu nhân? C̣n một loại đào nở mừng chiến thắng toàn quốc nữa kia! Đó là đào Nguyên Phong.

Vũ Uy vương thấy Nho Lâm nói năng văn vẻ th́ cùng vương phi, Tạ Quốc Ninh, Dă Tượng vào quán. Một tiểu đồng bưng nước mời khách, nó chỉ một ghế trống:

– Kính mời quư khách an tọa. Quư khách xơi nước muồng đi. Nước muồng vừa thơm, vừa dễ ngủ.

Vương phi thấy tiểàu đồng dễ thương qúa, phi tát yêu nó rồi tặng cho mười đồng tiền:

– Cô mừng tuổi cho con này! Trong quán con có những nước ǵ?

Tiểu đồng khoanh tay cúi đầu:

– Thưa cô có các loại nước sau đây: Nước vối hơi đắng ngủ ngon, dễ tiêu. Nước chè tươi tỉnh trí, lợi tiểu. Nước gạo rang với gừng khô ấm bụng. Nước pha con lấy trong giếng đấy. Chứ nước sông Hồng th́ hôi, tanh lắm.

– Sao thế?

– Dạ cách đây hơn tháng, trong trận Đông bộ đầu, người ngựa Mông cổ bị quân ta giết, xác trôi dầy sông. Nước sông dơ bẩn, cho đến nay cũng chưa sạch.

Vương hỏi Nho Lâm:

– Đào Nguyên Phong nở mừng chiến thắng toàn quốc đâu? Nếu anh có loại đào đó đưa ra đây tôi xin mua hết!

– Xin khách quan giữ lời hứa nhá!

Cả quán cùng ồ lên một tiếng, theo dơi.

Nho Lâm phất tay. Tiếng nhạc vang lên. Một cô gái tuổi khoảng 17-18, áo cánh nâu, váy lụa đen cất tiếng hát. Cô có đôi môi hồng, làn da trắng mịn, ánh mắt sáng ngời, hai má lủng đồng tiền đỏ au. Tay cô cầm cặp chũm chọe, vừa hát vừa đánh, đầu gật gù, cái đuôi gà càng thêm duyên dáng. Cạnh cô, là năm nhạc công. Một người đàn ông đánh trống cái, một người khuya chiêng, một người kéo nhị, một người thổi sáo. Một người đàn bà trung niên bật trống cơm. Mọi người im lặng thưởng thức bản nhạc. Đó là bản nhạc chiến thắng mới được sáng tác ngay trong đêm vây Mông cổ tại Đông bộ đầu.

Tay bưng bát nước muồng nóng, vương lắng tai thưởng thức âm điệu hùng tráng. Khi th́ như tiếng gươm, tiếng giáo chạm nhau choang choảng. Khi th́ như muôn ngàn tiếng quân reo, ngựa hí. Khi th́ rầm rập như vó ngựa phi. Tất cả cử tọa đều bị tiếng đàn, tiếng hát khiến máu trong người chạy rần rật. Rồi không ai làm chủ được ḿnh, tay múa, chân dậm, ḥ hét theo. Công lực cao thâm, thần trí cực mạnh như Vũ Uy vương, vương phi, Tạ Quốc Ninh, Dă Tượng mà cũng ḥa theo, hát với thanh âm hùng tráng.

Từ hồi thơ ấu vương từng được nghe đội nhạc Hoàng cung tấu, được nghe mẫu thân hát đủ mọi điệu hát dân gian cũng như cung đ́nh. Vương c̣n được học xử dụng tất cả các nhạc khí Đại Việt, v́ vậy vương nhận ra năm nghệ nhân đều là những người tài hoa khó kiếm.

Bản nhạc dứt, cô gái ngừng hát, ngừng múa, mồ hôi lấm tấm trên trán, sắc mặt đỏ tươi, càng tăng thêm vẻ đẹp của cô. Người người rừng rực như vừa uống một chung rượu.

Vương phi Ư Ninh hỏi:

– Này cô em! Bài hát vừa rồi rơ ràng là bài Đông bộ đầu trảm Thát đát (Giết Thát đát tại Đông bộ đầu). Sao nhịp điệu lại thay đổi đi khá nhiều vậy?

– Dạ, quả là bản nhạc đó, nhưng em đổi đi một chút cho thêm hùng khí.

Chợt vương phi Ư Ninh thấy sau chỗ cô gái ngồi có mấy chữ Nôm:

 Thanh Ngoan, mười tám mùa xuân,
 t́m người cùng tát biển Đông.

 Phi đưa mắt nh́n vương rồi dùng lăng không truyền ngữ nói với vương:

– Anh có chú ư gịng chữ không? Th́ ra cô gái này tên Thanh Ngoan, 18 tuổi. Cô không phải con hát, mà ra đây tuyển phu.

Vương dùng Lăng không truyền ngữ hỏi lại:

– Sao em biết cô ấy tuyển phu?

– Anh không thấy sao? Cô ấy t́m người cùng tát biển Đông, chữ này lấy ư trong câu tục ngữ: Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.

– Anh chưa học chữ Nôm thành ra đọc không hết 12 chữ kia. Anh đọc được chữ thanh, c̣n chữ Ngoan th́ nào có biết! Em thử hỏi xem cô ca nhi này có đúng tên Thanh Ngoan không? Biết đâu Thanh Ngoan là người khác, không có mặt ở đây th́ sao?

Vương phi hỏi cô gái:

– Này cô em! Bây giờ em hát một bài nhẹ nhàng đi.

Cô gái đưa mắt cho ban nhạc, một người đánh trống mảnh, một người kéo nhị, một người thổi sáo, một người đánh đàn bầu. Người đàn bà vẫn bật trống cơm. Cô gái gơ phách, rồi cất tiếng hát. Mở đầu là bốn câu thơ lục bát, cô hát theo điệu ru em mượt mà. Hết bốn câu, cô đổi sang điệu hát rất lạ, rất êm dịu.

Bản nhạc hết, vương phi Ư Ninh hỏi:

– Em ơi! Bài hát vừa rồi theo điệu ǵ vậy? Tôi chưa từng nghe qua.

Cô gái nhoẻn miệng cười, đôi mắt có đuôi càng thêm duyên dáng:

– Thưa đó là điệu hát Xẩm đấy ạ.

Phi khen:

– À, xung quanh tôi người ta nói đến hát Xẩm hoài, bây giờ tôi mới được nghe em hát. Em hát hay thực, bỏ xa các ca nhi mà tôi từng được nghe. Này em, hát Xẩm là điệu hát dành cho người nghèo, xin tiền. Em có nghèo đâu mà cũng hát Xẩm. Em đẹp lồ lộ, tươi thắm như hoa đào, hoa lư (mận) th́ phải gọi là hát Đào hoa, hoa Lư hoa mới đúng.

Cô gái cười, ánh mắt lung linh như nước hồ thu, chắp tay vái vương phi:

– Thưa phu nhân, hát Xẩm là điệu hát dân gian, không biết ai là tác giả, có từ bao giờ. Thế nhưng người ta cứ phong cho Trương Chi là tác giả. Trương Chi là nhạc sĩ tài hoa thời vua Hùng. Nếu đúng như thế th́ hát Xẩm có từ thời vua Hùng.

Tạ hầu xen vào:

– Tuy đến nay sử sách không ghi rơ ràng, nhưng trong bộ Lĩnh Nam mật sử, phần Bắc b́nh vương thế gia chép rằng hồi niên thiếu, khi vương qua bến đ̣ đi Cổ loa th́ gặp một cặp vợ chồng hát Xẩm tên là Chu Thổ Quan. Như vậy hát Xẩm ít nhất có vào thời vua Trưng (39-43 sau Tây lịch).*

Ghi chú,

* Bắc b́nh vương Đào Kỳ là đại anh hùng trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng. Ngài lĩnh chức Đại tư mă tương đương với ngày nay là Tổng tư lệnh quân đội. Vương phi là Nguyễn Phương Dung lĩnh chức Tể tướng triều Lĩnh Nam. Hiện (2001) đền thờ hai vị c̣n tại Lộc hà, Hội phụ, Lê xá, Thị thôn thuộc Cổ loa Hà nội. Xin xem Anh hùng Lĩnh Nam, Động đ́nh hồ ngoại sử, Cẩm khê di sự, cùng tác giả.

Dă Tượng thấy cô gái quá trẻ, xinh đẹp mà kiến thức rộng, chàng hỏi:

– Cô ơi, tại sao tại các con đ̣ qua sông, trước các đền chùa, nhất là ngày mùa, tôi thấy người hát Xẩm đều nghèo, đi xin ăn. Mà ở đây cô cũng là Xẩm, vậy cô là Xẩm giầu, Xẩm đẹp sao? Cô đẹp thế kia mà đi hát Xẩm th́ nên gọi là Xẩm tiên nga mới đúng.

– Anh đặt câu hỏi như vậy th́ anh từng nghe hát Xẩm nhiều rồi. Em đâu phải Xẩm. Xẩm chỉ là một điệu hát thôi. C̣n em, em biết hát tất cả các điệu hát Đại Việt như Quan họ, Đ̣ đưa, Ả đào, Sa mạc. Lại c̣n hát Lư, hát chăn trâu.

Xuất thân là mục đồng chăn trâu, rồi thành tướng Ngưu binh, Dă Tượng thuộc hàng trăm bài hát nghêu, hát đồng, hát ghẹo, hát gọi, hát đố. Chàng rút ống sáo đeo trước ngực ra thổi theo điệu Hát Nghêu. Lập tức cô gái cất tiếng hát theo:

  Hôm nay trời nắng, gió êm,

Cỡi trâu, gơ sừng, ấy a, ta quên nhọc nhằn. Dă Tượng khen:

– Giọng cô tốt quá. Thế tôi hỏi cô câu này nghe: tại sao th́ Xẩm hầu lại gồm tất cả các điệu Quan họ, Ả Đào, Hát lư, Hát trống quân?

– Anh ơi, Hát Xẩm là diệu hát dân gian . V́ vậy Hát Xẩm rất phong phú có thể dùng tất cả thể loại thơ văn biến ra. Như bài hát Đông bộ đầu giết Thát đát, từ nguyên tác em có thể biến thành điệu hát Xẩm, nhưng không c̣n hùng tráng nữa. Bây giờ em xin hát một bài hát Ả Đào, mời anh nghe.

Nàng phất tay, rồi gơ phách, các nhạc công cùng tấu nhạc ḥa lẫn vào nhau, nàng cất tiếng hát: 

Lĩnh-Nam là đất anh hùng,
Vua Bà ngự trị, một ḷng thương dân.
Mê-linh khởi nghĩa,
Ánh trăng soi, lửa chiếu đến ngang trời.
Vua Bà cầm bảo kiếm, quyết một lời:
Thề đem sức, giúp đời dành tự chủ.

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếm hăn thanh.*

Khi đuổi giặc, rồi th́ đất tổ thái b́nh,
Đem tất cả hùng tài dựng lại nước.
Tài không thiếu, đức cũng đủ, dư thừa phương lựơc,
Chỉ hiềm v́, thế nước đă suy vi,
Cẩm-khê sóng cả bốn bề,
Anh hùng gieo xuống, hồn về cơi tiên.
Ngh́n năm lịch sử ghi tên.

* Người ta sinh ra, ai mà không phải chết, nhưng phải sao lưu chút ḷng son với đời sau (thẻ tre).

Tạ hầu cười:

– Cô ơi! Cô hát hay quá. Nhất là hai câu mưỡu cô lên cao đến như vậy, tôi chưa từng nghe qua. Điệu hát vừa rồi là điệu hát Ả Đào c̣n gọi là Ca trù. C̣n nội dung bài hát là nói về cuộc khởi binh của vua Trưng. Đâu phải hát Xẩm?

Cô gái lại gơ phách, năm nhạc khí lại tấu lên, cô biến bài Ca trù thành điệu hát Xẩm.

Dă Tượng chắp tay xá cô gái:

– Tuổi cô c̣n trẻ, mà tài th́ lại cao, nhất là cô làm chủ một tấm nhan sắc tươi như hoa, thanh thoát như cỏ non đầu xuân. Xin bái phục.

Vương phi Ư Ninh móc trong bọc ra một nén bạc, nắm lấy tay ca nhi, bỏ vào, mỉm cười:

– Chị biếu em đấy. Em hát hay, lại xinh đẹp thế này. Nếu chị là trai, chị quyết xung vào đội quân Bắc cương đánh giặc lập công. Đức vua ban cho chức tước ǵ chị cũng không nhận. Chị chỉ xin cưới em làm vợ thôi. Được làm chồng em, th́ lệnh vua bảo chị xung vào trăm ngh́n đao kiếm, vạn vạn mũi tên chị cũng sẵn sàng.

Nói rồi tay trái phi nâng cằm cô gái, tay phải sẽ tát yêu một cái.

Một nho sinh khá lớn tuổi ngồi trong hàng ghế đầu tiếp lời:

– Nhưng nay giặc bỏ chạy rồi, th́ dù có muốn làm anh hùng giết giặc cũng không dễ. Tôi e phải sang Mông cổ t́m giặc.

Một trung niên nam tử mặc vơ phục cấp Tá lĩnh xen vào:

– Biết đâu giặc bị thua chạy về, chúng sẽ kéo cả ổ sang trả thù th́ sao?

Thấy Nho Lâm đang ngây người ra nh́n cử chỉ từ ái của phi. Vương hỏi y:

– Anh nói đào Nguyên Phong. Đâu? Đào mừng chiến thắng toàn quốc mang tên Nguyên Phong của anh đâu?

Anh ta chỉ vào hai má cô gái hây hây hồng:

– Thưa quan khách đây là hai chùm đào chiến thắng thời Nguyên Phong đấy ạ.

Anh ta lại chỉ vào vương phi :

– Hai chùm đào chiến thắng của phu nhân mới thực là đẹp. Tôi e xuất hết kho vàng thiên hạ cũng không mua được.

Tuy kiếm thuật thần thông, tuy được phong tước Hồng Đức, Trang Duệ, Vũ Thắng công chúa ; rồi trở thành vương phi, địa vị cực cao quư. Nhưng giữa Quán văn, được một nho sĩ ca tụng sắc đẹp của ḿnh, phi cũng không dấu được nét hănh diện, vẻ e thẹn. Người phi nóng bừng lên, càng tăng thêm vẻ diễm kiều. Phi hỏi cô gái :

– Em ! Em tên ǵ ?

– Thưa phu nhân, em tên Thanh Ngoan.

– À th́ ra em đến đây treo bảng tuyển phu đấy.

– Sao phu nhân biết?

Phi chỉ vào tấm bảng có 12 chữ Thanh Ngoan mười tám mùa Xuân t́m người cùng tát biển Đông:

– Th́ chị đọc tấm bảng này chứ đâu!

Một người trang phục như thương gia hỏi phi:

– Trên tấm bảng này tôi chỉ đọc được có mấy chữ thanh, xuân, đông. C̣n 9 chữ kia tôi không đọc được. Đó là những chữ ǵ vậy?

– À đấy là chữ Nôm. Toàn bảng là Thanh Ngoan 18 mùa Xuân t́m người tát biển Đông. Thanh, xuân, đông là chữ Hán, c̣n lại 9 chữ là chữ Nôm.

– Chữ Nôm à? Tôi chưa từng học qua.

Nho Lâm giảng giải:

– Thời Lĩnh Nam về trước, người Việt ḿnh có chữ Khoa đẩu, tượng thanh. Sau khi Mă Viện chiếm Lĩnh Nam, triều Hán sai thu tất cả sách viết bằng chữ Khoa đẩu gồm mấy vạn bộ: kinh, sử, tử, tập, lại cấm dân chúng học chữ Khoa đẩu. Thế là bao nhiêu văn minh, văn học, kinh điển Việt không c̣n nữa. Hiện nay trong nước không ai đọc được chữ này nữa. Gần đây các thức giả chế ra chữ mới gọi là chữ Nam, đọc trại đi thành chữ Nôm. Chữ Nôm dùng chữ Hán ghép lại mà thành. Hiện các khóa sinh đều thi nhau học, nhưng chữ Nôm chưa có cấu trúc đầy đủ. Đă có rất nhiều danh tác bằng chữ Nôm.

Thanh Ngoan góp ư:

– Thưa quư khách, em nghĩ chữ Nôm phải có ít ra mấy trăm năm. V́ sử từng nói đến Bố Cái đại vương. Đại, vương là chữ Hán. C̣n bố là chỉ cha, cái để chỉ mẹ là tiếng Việt. Lại nữa bài hát Ả Đào vừa rồi bằng chữ Nôm, được làm vào thời vua Lư Thái tổ (1010 - 1028). Vậy th́ vào thời này chữ Nôm phải thịnh lắm rồi.

Dă Tượng trở lại với lời rao bán hoa đào. Chàng chỉ vào cành đào cắm trong b́nh, nở đỏ tươi hỏi Nho Lâm :

– Dĩ nhiên nhánh đào trên má Thanh Ngoan th́ đẹp hơn cành đào này rồi. Nhưng sao anh lại bảo đào trên má thím tôi với đào trên má Thanh Ngoan là đào chiến thắng Nguyên Phong ? Nguyên Phong là tên của đức vua mà.

– Này quan khách ơi ! Nếu như các trận vừa rồi ta bại hết, th́ các bà, các cô sợ xanh mặt ra, sao má có thể nở hoa ? V́ ta toàn thắng các bà các cô mới vui. Vui th́ má đỏ au lên, tươi thắm hơn bao giờ cả. C̣n tại sao danh sĩ trên toàn quốc gọi giai nhân mùa xuân này là đào Nguyên Phong ? Thưa quan khách, giai nhân khắp trời Nam ḿnh, hỏi ai không là con của đức vua ?

Anh ta chỉ vào mấy thiếu nữ ngồi trong quán:

– Các cô này đều là con đức hoàng đế Nguyên Phong cả đấy!

Vũ Uy vương mỉm cười, móc túi trao cho anh ta một lượng bạc, rồi chỉ vào cành đào lớn nhất :

– Giỏi ! Tôi xin mua cành đào Đông bộ đầu này.

Dă Tượng chỉ vào ca nhi Thanh Ngoan:

– Tôi muốn mua hai cành đào trên má giai nhân này, anh bán bao nhiêu ?

Tất cả cử tọa cùng cười ồ lên.

Một người đàn bà dường như trên sáu mươi tuổi nói với Dă Tượng:

– Cành đào này ngh́n vàng chưa dễ mua được. Cậu về đúc nhà vàng đi rồi rước giai nhân cũng chưa muộn.

Thấy một thiếu niên thân thể hùng vỹ, nét mặt xạm đen, nhưng khôi ngô, hỏi câu đó, tim Thanh Ngoan đập th́nh thịch, muốn nghẹt thở. Nàng e thẹn cúi đầu xuống, đôi má đỏ rực lên, trông càng đẹp hơn. Nàng ước thầm:

– Giả như ḿnh được làm vợ người này th́ không uổng tấm hồng nhan.

– Hai cành đào trên má Thanh Ngoan này đẹp nhất Thăng long đấy cậu ạ.

Nho Lâm nói với Dă Tượng : Kẻ phàm phu tục tử th́ ngh́n vàng cũng không bán. C̣n người nào muốn rước hai cành đào trên má Thanh Ngoan phải thuộc loại ba cóba không.

Tạ Quốc Ninh bật lên tiếng la lớn :

– Th́ ra cô Thanh Ngoan ra Quán văn này để tuyển phu đấy. Hèn ǵ quán mang tên Thiên Thư. Chữ Thiên Thư lấy trong bài thơ đánh Tống của ngài Thái úy Lư Thường Kiệt thời Anh vũ Chiêu thắng (1075-1076). Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư. Tên quán đă có ư nghĩa chiến thắng, mà tên giai nhân c̣n có ư nghĩa hơn. Trong lịch sử ca nhạc của Đại Việt, kể từ đời Lư đến nay người ta thường lấy nghệ danh khởi đầu bằng chữ Thúy, Thanh, Hồng, Huyền. Quán văn phường Tây hồ có Thanh Hương, Thanh Hoài, Thanh Thúy, Hồng Yến. Quán văn Thụy khê, Thụy hương có Thúy Hoa, Thúy Uyên, Thanh Thanh. Đó là những danh kỹ đời nay. Tôi biết từ xưa đến giờ ít ra mười người lấy nghệ danh là Thanh Ngoan. Mà Thanh Ngoan nào cũng khiến cho các danh sĩ thầm yêu, trộm nhớ. Nếu bây giờ cô tuyển được một đấng anh hùng cùng tát biển Đông th́ trăm năm sau, ngh́n năm sau không thiếu danh kỹ lấy tên Thanh Ngoan.

Nói đến đó trong ḷng hầu lại quặn đau, tưởng nhớ lại năm trước hầu từng đến Quán văn Tô lịch dự tuyển phu của đệ nhất danh kỹ Hoàng Hoa, rồi nàng trở thành vợ của hầu. Giữa lúc vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật, t́nh yêu mặn nồng, dạt dào th́ Mông cổ tràn vào Thăng long. Hoàng Hoa bị chúng bắt đi mất, cho đến nay vẫn không có tin tức ǵ.

Nho Lâm chỉ vào mấy thiếu niên trẻ, trong đó có viên Tá lĩnh:

– Bẩy vị này cũng đă ứng tuyển, nhưng không đủ điều kiện đấy.

Qua đối đáp của Tạ Quốc Ninh với Nho Lâm, Vũ Uy vương chợt nhớ lại truyện t́nh của phụ hoàng với vương mẫu. Trước kia, người Thăng long thường khinh khi những nghệ nhân, gọi họ là bọn xướng ca vô loài. Nhưng từ sau khi vương mẫu gặp phụ hoàng, rồi tiến cung, th́ những người hát rong không c̣n bị coi rẻ nữa. Họ kết nhau lại thành phường, lập ra những Quán văn. Trên toàn quốc, các trấn, các phủ, danh sĩ thi nhau lập Quán văn. Một luồng gió Văn học, Văn nghệ như trăm hoa đua nở. Chủ quán thường là nho sĩ, hoặc các thầy đồ. Họ mượn những thiếu nữ xinh đẹp, hằng ngày đọc sách cho khách nghe. Văn nhân, danh sĩ thường đến các Quán văn nghe thiếu nữ đọc sách. Họ c̣n cùng nhau xướng họa thi phú, cùng đàm đạo thế sự, nghe hát. Những cô gái có nhan sắc đua nhau đi học hát, đến các Quán văn đọc sách, ca hát cho khách nghe, với ước mong t́m được người có văn học làm chồng. Nhiều cô treo bảng tuyển phu. Rất nhiều cô gái thuộc hàng dân dă, nhờ Quán văn mà một sáng, một chiều trở thành phu nhân, hay vợ những học sinh trường Quốc tử giám. Từ đấy Quán văn mọc lên khắp các phường, nghiễm nhiên trở thành nơi để các giai nhân tuyển phu. Cô bé Thanh Ngoan này không phải ca nhi b́nh thường, mà là người có lư lịch hẳn hoi, ra đây tuyển phu.

Tạ hầu hỏi lại Nho Lâm :

– Này anh ! Anh ra điều kiện tuyển phu cho Thanh Ngoan là ba có, ba không. Thế ba có là có ǵ ? Ba không là ba không ǵ ?

– Thưa quư khách! Trước hết hăy nói ba không. Một là không có vợ. Hai là không bệnh tật. Ba là không trốn việc xung quân giữ nước.

Hầu mỉm cười gật đầu:

– Hay! Trong đoàn của tôi, th́ tôi đă có vợ, hơn nữa nhiều vợ; lại có nhiều con, nhiều cháu. Thế th́ tôi bị loại rồi. Tiếc quá, cô đẹp thế này, để tôi nhận cô là cháu nội, rồi dẫn lên Bắc cương gả cho một anh hùng b́nh Mông. Cô biết không, trong trận vừa qua, tại Bắc cương có hơn vạn trai tráng được đức vua khen thưởng đă lập công giết giặc đấy. Cô tha hồ mà chọn. Người xưa nói:

  Trai khôn t́m vợ chợ đông,

Gái khôn t́m chồng giữa chốn ba quân.  Lập tức Thanh Ngoan biến hai câu ca dao thành điệu hát Trống quân. Tất cả khách trong Quán văn cùng vỗ tay tán thưởng.

Hầu nh́n Vũ Uy vương, rồi chỉ vương phi:

– Vị này vừa cưới vợ xong. Như vậy cũng bị loại mất rồi.

Thanh Ngoan được vương phi tỏ cử chỉ từ ái, nàng muốn kiếm lời đẹp để tạ ḷng phi, mà chưa có dịp. Bây giờ nhân câu nói của Tạ Quốc Ninh, nàng xen vào:

– Kể ra trai năm thê bẩy thiếp là sự thường. Khách quan đây có thể tuyển thêm bốn thê nữa cho đủ năm, rồi tuyển bẩy bà nữa làm thiếp cũng cứ được đi. Nhưng đại phàm khi có chính thê rồi, mà chính thê già, xấu, th́ mới tuyển thiếp. Phu nhân đây tuổi c̣n quá trẻ. Nhan sắc th́ e người đẹp như Tể tướng Phương Dung thời vua Trưng cũng không hơn. Em nghĩ khách quan phải sủng ái phu nhân đến chết. Chết rồi c̣n sủng ái e cũng chưa đủ.

Quan khách vỗ tay hoan hô câu nói khéo léo của Thanh Ngoan.

Thanh Ngoan chỉ vào thanh kiếm của phi:

– Vả phu nhân trang phục thế này th́ là đệ tử phái Mê linh, luôn đeo kiếm trên lưng, ắt kiếm thuật thần thông. Khi chính thất là kiếm khách thuộc đệ tử danh môn, hỏi cô gái nào có gan bằng trời cũng không dám làm thiếp của khách quan. Ai mà làm thiếp của khách quan này th́ phải có một trăm cái đầu.

Vương phi Ư Ninh lại tát yêu Thanh Ngoan như tán thưởng câu nói ư nhị, rồi hỏi Nho Lâm:

– Anh đă ra điều kiện ba không. Vậy ba có là có ǵ?

– Một là phải có huân công trong trận b́nh Mông vừa qua.

Vương phi Ư Ninh tủm tỉm cười chỉ vào vương, Tạ Quốc Ninh với Dă Tượng:

– Ba vị này đều xung tên, đụt pháo; trăm phần chết, chỉ có một phần sống trong trận giặc vừa qua. Như vậy cả ba đều trúng cách

Phi lại hỏi :

– Hai ǵ?

– Hai là phải có sức khỏe. Mông cổ tuy đă bỏ chạy, nhưng rồi chúng sẽ sang báo thù. Người trượng phu của Ngoan phải khỏe để cầm Đao quất, Khiên mây đuổi giặc.

Dă Tượng thấy vui, vui chàng thắc mắc :

– Anh nói sức khỏe th́ chung chung quá. Khỏe đến bậc nào kia chứ ? Ví như vật ngă voi, đấm vỡ mười viên gạch hay múa Đao quất chẳng hạn.

– Cậu hỏi thực phải. Khi treo bảng tuyển phu cho Thanh Ngoan, tôi đă định rồi.

Anh ta chỉ cây cung Mông cổ treo trên vách :

– Muốn được làm chồng Thanh Ngoan, phải dương được cây cung kia.

Cung Mông cổ bằng thép, cánh cung to, dây cung bằng gân ḅ, phải người có nội lực thâm hậu mới dương nổi. Vương phi dùng Cầm long công phẩy tay một cái, cây cung rời vách bay lại phía Dă Tượng. Dă Tượng bắt lấy.

Cả quán cùng vỗ tay hoan hô thủ pháp của phi. Họ không thể ngờ một thiếu phụ 20 tuổi lại có nội lực siêu phàm như vậy. Phi chỉ Thanh Ngoan :

– Cháu dương cung cho Thanh Ngoan xem cháu có xứng đáng cùng nàng tát biển Đông không ?

----

Hồi này thuật đại cương về t́nh h́nh Văn nghệ thời Đông a, và sự phát triển của Hát Xẩm.

Khi tôi viết những ḍng này, th́ trong nước phong trào Hát Xẩm như hoa xuân rực nở. Tại khu phố cổ đi bộ Hà nội, những nghệ nhân danh tiếng dành ra chiều thứ năm, thứ bẩy cùng hát Xẩm cho du khách nghe.

Hát Xẩm chắc có từ lâu, đến đời Trần mới thực sự có căn bản, mà người có công đầu lại là một cặp đại anh hùng : Vũ Uy vương và vương phi Ư Ninh. Trước đời Trần th́ Hát Xẩm chưa đành cho người mù. Trong những hồi sau, độc giả sẽ biết chi tiết tại sao các nghệ nhân hát Xẩm hầu hết đều mù.