Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ

HỐI 55

 

Quyển I

Quyển II

Quyển III

Quyển IV

Quyển V

 

In ra

 

 HỒI THỨ NĂM MƯƠI LĂM


PHÁI TRÚC-LÂM YÊN-TỬ

 

Vương phi nghĩ thầm: cần thêm chi tiết cho Mông Ca sợ Hốt Tất Liệt mà ra tay nhanh. Phi than dài:

– Do bị đại vương ép, nước tôi chuẩn bị gửi bốn hạm đội thủy quân cho đại vương dùng để đánh Tống. C̣n vợ chồng tôi sẽ làm tướng của người.

A Lan Đáp Nhi được chỉ dụ của Mông Ca làm khâm sai điều tra trên toàn vùng đất Trung nguyên, do Hốt Tất Liệt cai trị những tội lỗi của Hốt Tất Liệt và hệ thống quan lại. Bất cứ ai có tội, được toàn quyền xử tử, cách chức. Nếu Hốt Tất Liệt không có lỗi, cứ bịa đặt ra lỗi. Bây giờ nắm được trọng tội của Hốt Tất Liệt, y mừng chi siết kể. Y nói:

– Vương gia tâu về với phụ vương rằng: Đại hăn Mông Ca là vua Mông cổ, người là con của thần Mặt trời. Quân đội Mông cổ là quân đội của Đại hăn. Người sẽ thu binh quyền của Hốt Tất Liệt, rồi xử tử y. Quân của Đại hăn quyết không sang đánh Giao chỉ để trả thù. Thù Giao chỉ là Hốt Tất Liệt.

Vũ Uy vương nh́n vương phi, dùng lăng không truyền ngữ nói: Không ngờ đại sự của ta lại thành công dễ dàng như vậy. Tuy nhiên ta phải khích A Lan Đáp Nhi cho y nổi khùng lên nữa.

Vương phi làm bộ kinh sợ:

– Thừa tướng nói th́ tôi tin. Nhưng mai đây chúng tôi vẫn phải tới trướng của đại vương Hốt Tất Liệt chầu hầu, làm con tin. Đợi khi nào đại vương Hốt Tất Liệt bị thu binh quyền, th́ chúng tôi sẽ tới Hoa lâm. Xin Thừa tướng hiểu rằng khắp vùng Hoa Bắc, cho đến Tứ xuyên, Đại lư, Đại Việt không ai biết Mông Ca là Đại hăn, có người c̣n tưởng đó là một viên tướng dưới trướng của đại vương Hốt Tất Liệt. Họ chỉ biết có Hốt Tất Liệt thuộc ḍng Sói xám ở Thảo nguyên, là con của Thần mặt trời mà thôi.

A Lan Đáp Nhi nổi giận cành hông:

– Tôi phải tâu với Mông Ca hăn giết cái thằng em phản bội Hốt Tất Liệt mới hả giận.

Vương phi lại đổ thêm dầu vào căn nhà đang cháy:

– Liệu Mông Ca hăn có đủ sức đấu với đại vương không? Đại vương thường nói: Mông Ca hăn bất tài sao làm Đại hăn Mông cổ? Nay gặp Thừa tướng, ngài nói sao th́ chúng tôi tin vậy. C̣n việc Mông Ca có thực là Đại hăn hay không, chúng tôi nào có thể tin được? Này Thừa tướng, cái nguy ngay trước mắt chúng tôi là chỉ thấy uy quyền Hốt Tất Liệt bao phủ khắp gầm trời. Ai ai cũng biết. C̣n Đại hăn Mông Ca th́ chẳng ai nghe biết ǵ cả. Ngày mai tôi phải đi yết kiến Hốt Tất Liệt.

Vương phi ngập ngừng:

– Về bọn thích khách vừa qua, tôi nghi do Hốt Tất Liệt sai đến. Chứ bọn Tống ở Tứ xuyên lo thủ thân c̣n chưa xong, lấy hơi sức đâu mà đến đây bắt Thừa tướng?

A Lan Đáp Nhi đành quyết định:

– Thôi th́ vương gia cứ đi sứ với Hốt Tất Liệt. Chúng ta sẽ gặp nhau ở Hoa lâm.

Y cho gọi Đi Mi Trinh vào:

– Người là đệ nhất dũng sĩ của ta. Chức người tới vạn phu trưởng đâu có nhỏ? Người theo bảo vệ ta, thế mà người để bọn Tống bắt ta, suưt nguy đến tính mạng. Cũng may vương gia, vương phi cứu kịp. Tội người phải xử tử h́nh.

Đi Mi Trinh biện luận:

– Thưa thừa tướng bọn này vơ công vô cùng cao siêu. Chúng từ phía rừng th́nh ĺnh đột nhập, nên bọn tiểu nhân bị bất ngờ. Tuy nhiên ngay lập tức bọn tiểu nhân đă bao vây bọn chúng.

– Được ta tha tội cho người. Người tự thị vơ công cao nhất thiên hạ, mà sao chỉ một chiêu đă bị vương phi đả bại.

– Bà này dùng tà thuật chứ không phải bản lĩnh chân thực. Tiểu nhân không phục.

Tạ Quốc Ninh lắc đầu :

– Nếu tướng quân muốn, th́ tái đấu với vương phi.

– Được. Tôi muốn đấu quyền trước.

Từ trước đến nay A Lan Đáp Nhi chỉ biết Đi Mi Trinh là đệ nhất dũng sĩ Mông cổ. Mông Ca dùng y làm cận vệ. Bất cứ vơ sĩ Tống, Tây vực nào cũng bị bại dưới tay y. V́ vậy trong lần kinh lư này A Lan Đáp Nhi mới xin Mông Ca cho Đi Mi Trinh theo. Khi bọn thích khách Tống tới, chính Đi Mi Trinh đă đả bại bốn tên, giết hai tên. Cuối cùng duy một kiếm khách đấu ngang tay với y. Thế rồi chỉ một chiêu vương phi Ư Ninh kiềm chế y dễ dàng. A Lan Đáp Nhi cũng tin rằng Ư Ninh dùng tà thuật. Y muốn Đi Mi Trinh tái đấu với vương phi cho rơ trắng đen.

Tất cả đều ra sân. Bọn Lôi kị đứng vây xung quanh. Vương phi với Đi Mi Trinh đứng đối diện nhau. A Lan Đáp Nhi hô lớn :

– Hăy chuẩn bị.

Y cầm dùi đánh một tiếng trống. Đi Mi Trinh phóng tới phát ra chiêu quyền đến vù một tiếng vào mặt phi. Phi tung ḿnh lên cao. Y đấm vào quăng không, người y lảo đảo. Ở trên không, lưng phi uốn cong, trông đẹp không thể tưởng được. Phi đáp xuống phía sau y. Y quay lại đấm liền hai quyền, phi lách ḿnh một cái, cho quyền y qua đầu ḿnh, rồi thuận tay mượn sức đánh sức, đẩy vào vai, chân quét chân y. Y bị ngă lộn lăn ra xa. Cứ như vậy, sau mười chiêu, Đi Mi Trinh nổi cáu :

– Người chỉ tránh né, không dám trực diện với ta, như vậy không kể.

Vương phi cười :

– Được ! Bây giờ tôi sẽ phản công.

Phi vận dương ḱnh phát một chiêu trong Cửu chân chưởng tên Loa thành nguyệt ảnh. Chưởng phong phát ra ào ào. Đi Mi Trinh vung tay đỡ. Binh một tiếng, ngươi y bật tung về sau nằm dài trên đất. Y vọt người dậy như con cá, tấn công vào ngực phi hai quyền. Phi xuất chiêu Thiết ḱnh phi chưởng đỡ. Binh một tiếng, y bay bổng lên cao, rơi xuống đất, quằn quại đau đớn.

Đợi cho Đi Mi Trinh đứng dậy, phi nói :

– Đệ nhất dũng sĩ Mông cổ chuẩn bị, tôi tấn công đây.

Phi vận khí phát chiêu vơ trấn môn của phái Mê linh tên Hải triều lăng lăng. Chiêu này có 5 lớp. Lớp thứ nhất ào ào tuôn ra. Đi Mi Trinh thấy chiêu số kỳ ảo, y vung tay phải gạt ngang. Binh một tiếng, y rung động toàn thân. C̣n vương phi th́ đứng nguyên. Phi phát lớp thứ nh́, lớp này mạnh gấp hai lần lớp đầu. Đi Mi Trinh đứng đinh tấn, dùng hai tay đỡ. Bùng một tiếng, người y choáng váng bật lui liền ba nước, như người say rượu. Đợi cho y đứng vững phi nói lớn :

– Lớp thứ ba. Đỡ này.

Lớp này mạnh gấp đôi lớp thứ nh́, gấp bốn lớp thứ nhất. Đi Mi Trinh nghiến răng dùng cả hai tay đỡ. Người y bay bổng lên cao. Trong khi chới với trên không, rơi xuống cạnh con chiến mă, th́ phi phát lớp thứ tư. Lớp này mạnh gấp đôi lớp thứ ba, gấp 8 lớp thứ nhất. Đi Mi Trinh kêu thét lên nằm ẹp xuống đất sau con chiến mă. Ầm một tiếng, con chiến mă đang gặm cỏ ở sân bật tung lên cao, nó hí lên một tiếng thê thảm, dẫy mấy cái rồi nằm im.

Chiêu Hải triều lăng lăng có 5 lớp, khi đă phát hết 4 lớp đầu th́ không dừng lại được, phi phải phát lớp thứ 5. Mọi người kêu thét lên, v́ chiêu đó trúng Đi Mi Trinh, th́ người y sẽ nát ra mà chết. Vũ Uy vương thấy nếu để Đi Mi Trinh chết dưới tay vương phi, th́ mưu cầu của Đại Việt với A Lan Đáp Nhi sẽ không thành. Vương hú lên một tiếng inh tai nhức óc, rồi xẹt tới xớt Đi Mi Trinh vọt lên cao. Ở trên cao vương đánh xuống chiêu Phong ba hợp bích, trong bộ chưởng trấn môn của phái Đông A. Hai ḱnh phong gặp nhau phát ra tiếng binh lớn. Người vương với Đi Mi Trinh lại vọt lên cao bật tung ra xa đến 5 trượng. C̣n vương phi cũng lùi liền 5 bước để giảm bớt ḱnh lực.

Đi Mi Trinh được vương cứu thoát, y đứng run lẩy bẩy. A Lan Đáp Nhi cũng kinh hồn, tự than :

– Vơ công Đại Việt như thế này, hèn ǵ xưa kia Thiên sứ Trần Thủ Huy và Công chúa Đoan Nghi đă dùng giúp Thành Cát Tư Hăn dựng ra triều Mông cổ từ Đông sang Tây, không ai địch nổi.

Tạ hầu hỏi Đi Mi Trinh :

– Tướng quân có muốn đấu vũ khí không ?

– Không ! Đủ rồi.

A Lan Đáp Nhi rùng ḿnh :

– Vơ công vương phi thấp hơn vương gia một bậc mà đă như thế này rồi, th́ hỏi sao A Tan không bị giết, hỏi sao Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô, A truật không bị bại ? Nếu nhị vị giúp Hốt Tất Liệt th́ Mông Ca nguy tai.

A Lan Đáp Nhi không thấy Dă Tượng đâu, y hỏi :

– Cái người khổng lồ vật ngă ngựa là ǵ của vương gia ?

– Y là cháu gọi tôi bằng chú.

– Kinh khủng, trên đời tôi chưa thấy người nào có thần lực như vậy. Nếu sau này người đó sang Hoa lâm, tôi sẽ xin phong cho y làm tướng chỉ huy cận vệ cho Đại hăn.

Vũ Uy vương tỏ ư cương quyết :

– Nếu như sau này đại vương Hốt Tất Liệt đối trận với Mông Ca hăn, người sai chúng tôi dánh Mông Ca hăn th́ chúng tôi chỉ có cách đánh cầm chừng. Chúng tôi hứa không làm lợi cho Mông Ca hăn th́ cũng không làm hại.

A Lan Đáp Nhi cảm động :

– Tôi sẽ tâu với Mông Ca hăn rằng để cho Đại Việt là phiên thần trung thành phương Nam, hơn là đem quân đánh. Đại Việt là nơi rồng nằm hổ phục. Đánh sẽ lĩnh thất bại như Ngột Lương Hợp Thai, chi bằng để yên mà được một nước anh hùng làm phên dậu.

Có tiếng ngựa hí, rồi mười kị mă đang vào trong sân. Trong 10 kị mă có Ngột A Đa. Nh́n những xác chết của Lôi kị, chiến mă cũng như của đám vơ sĩ Tống rải rác trong sân, A Đa kinh ngạc hỏi:

– Đại huynh! Cái ǵ đă xẩy ra?

A Lan Đáp Nhi tóm lược:

– Bọn vơ sĩ Tống tập kích. May được vương gia cứu ứng.

A Đa ra lệnh cho thủ hạ dọn dẹp xác chết, nét mặt y lạnh lùng như không biết truyện ǵ đă xẩy ra.

A Lan Đáp Nhi cung tay :

– Xin mời sứ đoàn ở lại dùng bữa cơm với chúng tôi. Không biết vương gia có thời giờ không ?

– Đa tạ Thừa tướng.

Nh́n thấy Thanh Ngoan với Thúy Ngần, Ngột A Đa tiến tới, nói bằng âm thanh nhu nhă:

– Hai em cũng theo vương gia tới đây sao ?

Thúy Ngần mỉm cười:

– Chúng em xin đi theo vương, để hát cho anh nghe đấy. Anh bằng ḷng không?

Nghe câu nói t́nh tứ của người đẹp, ḷng Ngột A Đa nhũn ra. Y nói với A Lan Đáp Nhi:

– Xin đại ca thù tiếp vương gia, vương phi cùng Tạ hầu. Đệ xin tiếp hai vị cô nương.

Vương phi biết A Đa say Thanh Ngoan với Thúy Ngần, nên muốn thù tiếp riêng để có dịp gần hai nàng. Phi dặn :

– Hai em phải lễ phép với ngài Tham tri nghe !

– Dạ ! Em nhớ lời chị.

Bấy giờ trời đang giữa mùa Xuân, trăm hoa đua nở. Trang trại tuy rộng lớn nhưng trồng có ba loại hoa, một là hoa đào, hai là hoa hồng, ba là hoa trà. Riêng trà có tới 10 loại. Khắp trang trại như một rừng hoa. A Đa đặt tiệc trong căn nhà nghinh phong nằm giữa các bồn hoa. Y nở nụ cười thực tươi, xoa hai tay vào nhau :

– Những khóm hoa trà này mới nở hôm qua. Hôm nay anh mời hai em cùng thưởng hoa, thưởng thức thổ sản của Đại lư.

Dù đă được Vũ Uy vương cho biết rằng Ngột A Đa là con của Tây Viễn vương Trần Tử An. Hồi niên thiếu vương theo Thành Cát Tư Hăn chinh chiến khắp nơi, nên mọi giáo huấn con cái do phu nhân đảm trách. Bà Tử An xuất thân là một ca nhi trong đội nhạc cung đ́nh triều Lư. Khi sống ở Mông cổ, bà không tiếp xúc với nhiều ngươi, nên bà chỉ biết nói những câu thông thường. Một mẹ, một con sống cô lập, bà sợ con quên nguồn gốc, nên dạy con nói tiếng Việt, văn hóa Việt. V́ vậy trong tâm A Đa, cái ǵ của Việt cũng đẹp, cũng tốt. Bây giờ y được gặp năm thiếu nữ Việt giữa tuổi trổ hoa, lại đàn ngọt hát hay. Y say mê ngay Thanh Ngoan đến điên đảo thần hồn.

Thanh Ngoan nhận ra rằng Ngột A Đa là con người thanh lịch, chứ không giống bọn Mông cổ cộc cằn dữ tợn. Nàng cảm động hỏi :

– Em muốn hỏi anh một truyện.

– Em cứ hỏi.

– Anh là đại quan Mông cổ, mà anh lại nói tiếng Việt rất văn hoa. Hơn nữa anh thích nghe bọn em hát những bài hát Việt. Hồi đầu em ngạc nhiên, Vũ Uy vương với vương phi cho em biết anh là người Việt, hơn nữa là con nhà danh gia th́ bọn em mừng chi siết kể. Không biết song thân có đặt cho anh cái tên Việt nào chưa?

– Mẹ anh đă đặt cho anh là Trần Đại Việt.

– Úi chà, tên này oai lắm. Từ nay bọn em gọi anh bằng cái tên này nghe?

– Được, nhưng chỉ gọi khi chúng ta bên nhau, chứ không nên gọi trước mặt người Mông cổ.

Thúy Ngần nghĩ thầm:

– Đại Việt đang say mê Thanh Ngoan, mà Thanh Ngoan đă là vợ chưa cưới của anh Dă Tượng rồi, e rằng Đại Việt sẽ tuyệt vọng. Với một người như Đại Việt, bất cứ cô gái nào cũng phải ước ao được chàng chiếu cố. Sáng nay vương phi Ư Ninh dặn ta t́m cách nhảy vào thay Thanh Ngoan, bắt con nai A Đa, gỡ rối cho mối t́nh tay ba này. Không biết ta có làm nổi không?

Nghĩ vậy nàng hỏi:

– Anh Đại Việt này, anh đă từng học nhạc chưa?

– Không! Anh là một người thô lỗ. Từ bé chỉ biết cỡi ngựa bắn cung. Nhưng anh thích nhạc Việt, thích nghe các em hát, v́ anh đă được mẹ anh hát cho nghe. Các em hát hay hơn mẹ anh nhiều.

A Đa nh́n thẳng vào bộ ngực căng no của Thúy Ngần, miệng y nuốt nước miếng ừng ực:

– Hôm trước anh đe dọa Thanh Ngoan rằng anh sẽ bắt Ngoan đem về Mông cổ, khi nào Ngoan với anh có mười con anh mới cho Ngoan về quê. Vậy Ngoan có sợ không?

Đúng ra Thanh Ngoan phải trả lời rằng em sợ lắm v́ em là vợ Dă Tượng rồi. Chợt nhớ lời vương phi:

Em đă đốt lên ngọn lửa trong tâm A Đa. Em phải cố làm cho ngọn lửa đó không những không tắt, mà c̣n bùng lên cao hơn. Em đừng quên các anh thư thời Lĩnh Nam xung trận chặt đầu giặc. Bây giờ em nở nụ cười, liếc khóe mắt đưa t́nh mà thắng giặc th́ khác ǵ múa kiếm, vung đao.

Nàng lại nghĩ đến 162 tướng thời vua Trưng, anh hùng là thế, được thờ khắp nước. Tại sao nàng không hy sinh cho đất nước? Nàng vờ e thẹn trả lời trái với ḷng ḿnh:

– Em chỉ là cô bé thôi, mà được một danh nhân như anh chiếu cố th́ cầu mà không được.

A Đa tuyệt không ngờ Thanh Ngoan lại nói câu đó, trống ngực y đánh bùng bùng. A Đa nói trong hơi thở:

– Anh tưởng trên đời chỉ có ḿnh Thanh Ngoan xinh đẹp, duyên dáng; không ngờ cả năm cô đều đẹp, mỗi người một vẻ. Hôm qua anh đă may một cái túi gấm, rồi ướp hoa, anh dùng để bắt cả Thanh Ngoan lẫn Thúy Ngần.

Thúy Ngần nguưt A Đa:

– Anh chỉ có quyền bắt Thanh Ngoan thôi. Anh không có quyền bắt em.

– Anh bắt em cho đại ca A Lan Đáp Nhi. Đại ca thấy anh mết Thanh Ngoan. Anh ta cũng muốn có cô vợ đẹp, ca hát giống Thanh Ngoan. Anh nghĩ Thúy Ngần nên làm phu nhân Thừa tướng Mông cổ có phải lợi cho Đại Việt không? Thúy Ngần ưng không?

Thúy Ngần đùa:

– Em ưng gấp.

– Em nhớ lấy lời nghe.

Đại Việt cười sảng khoái, tiếng cười ḍn như suối reo:

– Lát nữa đây anh sẽ nói truyện với anh Duy, với chịï Trần Ư Ninh xin cưới Thanh Ngoan ngay ngày mai. Anh cũng xin anh Duy gả Thúy Ngần cho A Lan Đáp nhi. Nếu Thanh Ngoan từ chối th́ anh cho Lôi kị bắt sống.

Thanh Ngoan kinh hoảng nghĩ thầm:

– Cái anh này là người Việt tha hương, yêu nước nồng cháy con tim. Bây giờ hoàng đế Nguyên Phong cũng như Vũ Uy vương đang cần sự giúp đỡ của anh ta. Anh ta mà ngỏ lời th́ ông bà bằng ḷng ngay. Truyện ta với Dă Tượng hóa ra một tuồng ảo mộng ư. Làm sao bây giờ?

Tuy vậy, nghe Đại Việt thổ lộ chân t́nh, Thanh Ngoan cảm động, má đỏ au lên, mặt nóng bừng, môi khô. Nàng cố lấy can đảm nói:

– Em biết anh dành cho em những bông hoa t́nh yêu nồng thắm. Em cũng biết với địa vị của anh th́ không thiếu ǵ giai nhân Mông cổ, Tây vực, Trung nguyên ước mơ được làm vợ anh. Thế nhưng anh lại yêu con bé nhà quê này. Em đâu phải khúc gỗ mà không cảm động? Nợ t́nh này em mắc nặng quá, sao trả anh cho nổi? Tiếc rằng em đă trót yêu thương, dành tất cả t́nh ư cho anh Dă Tượng rồi. Thôi anh bắt Thúy Ngần đi.

Đại Việt cương quyết:

– Anh thề sẽ cưới bằng được em làm vợ. C̣n Thúy Ngần anh phải bắt cho A Lan Đáp Nhi. Em ơi! Công danh anh có, tài trí anh có, mà anh yêu một giai nhân cũng không được sao? Phải được, bất cứ giá nào cũng phải được. Nếu không được th́ anh phải ôm hận cả đời sao?

Nghe Đại Việt nói, Thanh Ngoan, Thúy Ngần nhận thấy Đại Việt đa t́nh, lăng mạn vô cùng.

Thúy Ngần cảm thương cho Đại Việt, bị rơi vào biển t́nh tuyệt vọng. Hôm trước trên bến Bắc ngạn, Tây viễn vương đă nói với năm nàng: Phàm trong t́nh trường, khi gặp trở ngại, người ta càng lao vào, t́nh càng thêm thâm sâu. Nàng lại thương hại cho cả Thanh Ngoan. Thanh Ngoan dành tất cả yêu thương cho Dă Tượng, nhưng Dă Tượng lại dồn hết tâm trí cho Xă tắc, cho tộc Việt. Nếu như Dă Tượng yêu một cô gái khác, có thể một ngày nào đó anh thay đổi. Đây người thiếu niên này quá cao cả, t́nh yêu quá bao la, chỉ nghĩ tới đất nước, đến dân tộc th́ sao có thể lay chuyển? Hơn nữa anh là con nuôi Hưng Đạo vương, th́ ḷng yêu nước mănh liệt không thể tưởng tượng nổi. Vương phi Ư Ninh muốn ta bắt A Đa thay Thanh Ngoan, mà anh ta lại muốn bắt ta cho A Lan Đáp Nhi. Khó quá.

Ba người vừa ăn vừa hát. Họ quên mất cả thời gian. Khi bóng chiều ngả xuống dẫy núi xa xa th́ vương phi xuất hiện. Phi cười:

– Các em ngắm hoa đủ chưa? Chúng ta về thôi.

Hai nàng cùng đứng dậy,Thúy Ngần nghiêng nghiêng đầu vuốt mái tóc nói với Đại Việt:

– Chúng ta tạm biệt, hy vọng mai này sẽ được gặp lại nhau.

Vương phi đi trước với Thúy Ngần, A Đa đi sau với Thanh Ngoan. A Đa nh́n Thanh Ngoan với tất cả yêu thương ngùn ngụt. Không cầm ḷng được, chàng nắm lấy cườm tay nàng. Thanh Ngoan định giật tay ra, nhưng chợt nhớ lời Vũ Uy vương dặn:

Em là con gái, trời cho một tấm hồng nhan hiếm có. Khi ra ngoài sẽ có nhiều người bầy tỏ cảm t́nh. Bất cứù trường hợp nào cũng phải t́m cách từ chối thực nhu nhă.

Vương phi dặn:

A Đa yêu thương em như lửa cháy, bao la như biển Đông. Dù em chỉ biết có Dă Tượng. Em phải khéo léo trong cung cách đối xử với y. Đất nước ḿnh đang cần đến y.

Câu đất nước ḿnh đang cần đến y, nhắc nhở nàng nhớ đến những lần Tạ Quốc Ninh giảng cho nàng nghe về hành trạng của vua Trưng cùng 162 anh hùng thời Lĩnh Nam. V́ vậy nàng không dám giật tay ra. A Đa đi chậm lại, thành ra khi tới sân trước, hai người cách xa vương phi mấy chục trượng.

– Em ơi!

A Đa th́ thầm vào tai Thanh Ngoan: hôm trước em cho anh cái áo lót, lại cho anh cái váy của em. Đêm đêm anh ôm áo, ôm váy của em mà hôn, mà ngủ.

Rồi không cần Thanh Ngoan đồng ư hay không chàng đeo vào cổ tay nàng chiếc ṿng ngọc đỏ tươi có vân trắng:

– Anh tặng em, mong rằng lúc nào em cũng mang bên cạnh.

Tim Thanh Ngoan đập th́nh thịch, nàng nói trong hơi thở dồn dập:

– Em! Em đa tạ tấm ḷng của người quân tử.

Tay Thanh Ngoan run lẩy bẩy trong tay A Đa, một cảm giác êm dịu chạy khắp thân, hơi thở của nàng dồn dập. Nàng không muốn gỡ tay ḿnh khỏi tay A Đa. Nàng nghĩ thầm: phải chi người nắm tay nàng là Dă Tượng th́ hạnh phúc biết bao?

Có tiếng vương phi gọi:

– Thanh Ngoan ơi! Về thôi!

Thanh Ngoan tỉnh giấc mơ Đào nguyên. Nàng khẽ gỡ tay khỏi tay A Đa. Nhớ lời vương phi dặn: dù không yêu A Đa, nhưng v́ quốc sự, bất cứ lúc nào, bất cứ hoàn cảnh nào, cũng phải đốt ngọn lửa t́nh của A Đa ngày càng mạnh. Nàng liếc mắt, nghiêng nghiêng đầu nói với A Đa:

– Em về nghe. Không bao giờ em quên kỷ niệm hôm nay đâu. Chúng ta c̣n nhiều dịp gặp nhau.

Vừa trở về tới trại, th́ La An báo với vương:

– Sáng nay các vị vơ lâm Trung nguyên đă tới để đón gia quyến. Họ đóng trại bên đất Việt. Hưng Ninh vương sẽ đem tù binh Mông cổ lên trao cho sứ đoàn. Về phía Mông cổ th́ pḥ mă Hoài Đô loan báo cho biết, họ đă đem gia quyến vơ lâm Trung nguyên tới. Ngày mai là ngày trao đổi người của đôi bên.

Vương hỏi:

– Dă Tượng về chưa?

– Đô thống về rồi. Người đang ăn. Cũng sắp xong.

Nguyên trong khi bọn Tống của Vương Liên giao chiến với bọn Mông Cổ của A Lan Đáp Nhi, vương gọi riêng Dă Tượng dặn:

– Lát nữa, bọn Tống rút lui, thế nào Mông cổ cũng dùng Lôi kị bao vây. Cháu dùng thần lực đánh ngă ngựa cho bọn Mông cổ kinh hăi, mở ṿng vây cho Tống. Sau đó cháu đuổi theo bọn Tống, ngỏ lời rằng Đại Việt muốn hội với Tống cùng liên hợp đánh Mông cổ. Sau đó cháu cùng họ hẹn nơi bàn việc.

Dă Tượng đă ăn xong, chàng lên gặp Vũ Uy vương. Vương hỏi:

– Cháu gặp lại Vương Kiên, kết quả ra sao?

– Vương nói: chinh sách về Nam biên của Tống không nhất định. Vương xin chú thỉnh ư kiến triều đ́nh rồi hai bên sẽ gặp lại nhau, như vậy mới rơ ràng. Vương hẹn gặp ta tại Hợp châu.

Vào lều họp, vương hỏi phi:

– Em nghĩ ḿnh nên dùng những vơ sĩ Tống vào việc ǵ?

– Họ là những người có chân tài, gặp hoàn cảnh cùng đường mà phải tha hương. Bây giờ ta có hai cách dùng cái tài của họ. Triều đ́nh đă cho họ một khu đất tốt, chu cấp cho họ phá hoang trồng cấy, để cùng gia quyến mưu sinh. Lại khuyến khích họ mở trường dạy văn, dạy vơ. Nếu như mai này Mông cổ sang nữa, họ sẽ sát cánh cùng ta chống giặc.

– Phương cách này thực hay. Trước đây phụ hoàng đă từng áp dụng với nhóm của Hoàng Bính. C̣n cách thứ nh́?

– Xa quê hương là điều khắc khoải, đau xót. Ta đă dơ tay ra đón họ, lại cứu gia đ́nh họ, ta phải giúp họ trở về quê hương. Vậy em nghĩ ḿnh t́m cách đưa họ trở về Trung nguyên, sống trong vùng cai trị của Tống là điều mà họ ước ao. Ta cần liên lạc với Vương Kiên, rồi đưa họ cùng gia quyến đến Hợp châu sống. Họ sẽ cùng quân Tống chống Mông cổ. Họ giúp Tống chống Mông cổ tức là giúp ta chống Mông cổ.

– Ḿnh nên hỏi ư kiến Vương Kiên trước đă.

Vừa lúc đó Dă Tượng báo: hai người cầm đầu nhóm vơ sĩ hàng Đại Việt là Trấn thiên kiếm Phùng Tập thuộc phái Côn lôn và Càn khôn trấn thiên chưởng Tiêu Hư tử thuộc phái Vơ đang xin cầu kiến.

– Cho mời vào.

Hai đại tôn sư vơ học Trung nguyên dẫn mười bốn đệ tử tới. Vương phi kinh ngạc khi thấy Tiêu Hư tử cùng 9 đệ tử không mặc y phục Đạo gia mà mặc cà sa đại hồng của nhà Phật. Lễ nghi, phân ngôi chủ khách xong. Vương hỏi:

– Nhị vị đă chuẩn bị đón gia quyến chưa?

Phùng Tập chắp tay:

– Khải vương gia rồi.

Tiêu Hư tử tiếp:

– Triều đ́nh định cấp khu đất gần núi Côi cho chúng tôi. Chúng tôi đă đi xem, đây là khu đất ph́ nhiêu. Sông, ruộng nhiều tôm cá, núi nhiều thú hoang. Nhưng trong anh em có rất nhiều người c̣n trẻ, không vướng thê nhi. Họ muốn Đại Việt thu nhận vào các đạo quân, để họ cùng góp sức chống Thát đát.

Vương phi nh́n chồng, như muốn nói: Ḿnh đang muốn đem họ về Trung thổ đánh giặc th́ họ lại đề nghị. May thực.

– Thưa nhị vị, chúng tôi mới sang đây được ít ngày, mà đă có duyên gặp gỡ một đại tướng nức danh của Tống, người từng thắng Mông cổ nhiều trận. Tôi đề nghị các vị nên đem gia quyến vào Thục cùng nhau chống giặc. Không biết các vị nghĩ sao?

Phùng Tập hỏi:

– Vị tướng đó là ai vậy?

– Vương Kiên.

– Aáy à! Liệu Vương Kiên có tin chúng tôi không? Hiện có rất nhiều Hán gian theo Mông cổ, đánh nhau với Vương Kiên. Bởi vậy Vương thường nghi ngờ vơ lâm vùng Mông cổ chiếm. Hơn nữa, chúng tôi từng theo Ngột Lương Hợp Thai đánh Tống nhiều trận, sợ rằng Vương Kiên vẫn c̣n chưa quên thù hận.

– Chúng tôi sẽ tŕnh bầy hoàn cảnh của quư vị với Vương Kiên.

Đạo sư Tiêu Hư đề nghị:

Bần tăng xin vương gia chuẩn cho một điều.

Vương phi nghe đạo sư xưng là bần tăng, đúng ra ông phải xưng bần đạo mới phải. Phi mở to mắt ra nh́n ông.

Phi hỏi Phùng Tập:

– Tiên sinh? Vị này là... thế nào?

Phùng Tập chắp tay vái:

– Vương phi ngạc nhiên cũng phải. Nguyên đại ḥa thượng đây là một cao tăng tại Thiếu lâm tự. Pháp danh Thiên Phong. Người cùng chín đệ tử khởi binh tại vùng Hồ Bắc đuổi Mông cổ. Nhưng bị thất bại. Cả 10 thầy tṛ mai danh ẩn tích trong lớp áo đạo sĩ, dối rằng thuộc phái Vơ đang, đạo hiệu là Tiêu Hư tử.

Vũ Uy vương từng được nghe phụ hoàng ca tụng công đức của Thiên Phong thiền sư trong việc hoằng dương đạo Đức Thế Tôn. Ngài đi tu từ thủa thiếu thời tại Thiếu lâm tự. Về Vơ công, ngài là tọa thủ La Hán đường. Về Phật pháp ngài là một Bồ Tát đắc quả. Phụ hoàng ước mong được gặp ngài. Nhưng gần đây ngài cùng chư đệ tử khởi binh đánh Mông cổ, rồi tuyệt tích. Bây giờ Thiên Phong đă tới Đại Việt trong lớp áo đạo sĩ. Vương mừng chi siết kể.

C̣n vương phi, phi là Phật tử, hơn nữa là đệ tử yêu của Vô Huyền bồ tát. Vương phi cực kỳ quư trọng các tăng ni. Phi đứng dậy hành lễ:

– A Di Đà Phật. Đệ tử tham kiến đại sư. Đức Phật dạy rằng tất cả đều do thiện duyên, v́ Thát đát xâm Đại Việt nên dân chúng được hưởng thiện duyên Phật giá của đại sư cùng chín vị cao đồ.

Vũ Uy vương lại chắp tay hành lễ:

– Hồi c̣n niên thiếu phụ hoàng của đệ tử có duyên với Yên Tử sơn, người tu dược ít lâu với Trúc Lâm quốc sư. Nay tuy trở về chốn bụi trần, mà ḷng c̣n tưởng nhớ đến chính pháp. Đệ tử kính xin Phật giá của đại sư cùng chư đệ tử lên núi Yên Tử trước là thanh tu, sau là đem đức từ bi độ cho chúng sinh Đại Việt. Hiện chùa Hoa yên trên núi Yên Tử do Đại Đăng quốc sư làm phương trượng.

– Bần tăng ở Trung nguyên đă từng nghe nói rằng Đại Việt có chùa Hoa yên trên núi Yên Tử, trải qua đă hai đời, các tổ đều đắc quả Bồ Tát. Nhưng không biết Phương trượng có nhận bần tăng hay không?

– Vị khai sơn ra phái Yên Tử là tổ Hiện Quang. Người kế tiếp là Trúc Lâm quốc sư. Phương trượng hiện thời là Đại Đăng quốc sư, thuộc thế hệ thứ ba, người là bạn thân của phụ hoàng.

Thiên Phong mừng vô hạn:

– Ngoài 9 đệ tử đă thọ giáo thành tăng, bần tăng c̣n 18 đệ tử tục gia. Bần tăng xin vương gia cho họ về Trung nguyên diệt Thát đát.

Dă Tượng bước vào cung tay:

– Thưa chú! Có Quốc sư với Hưng Ninh vương giá lâm.

Vũ Uy vương cùng vương phi đứng bật dậy:

– Xin mời các vị cùng tiểu vương ra nghênh đón quư khách.

Quốc sư Đại Đăng mặc quần áo nâu, phía sau ngài có mấy đệ tử tục gia theo hầu. Đại sư Đại Đăng là bạn thân của Nguyên Phong hoàng đế, hơn nữa ngài là Quốc sư của Đại Việt. Uy tín, đạo hạnh của ngài vang lừng khắp Hoa, Việt, Chiêm, Đại lư. C̣n Hưng Ninh vương tục danh Trần Quốc Tung, là anh ruột Hưng Đạo vương. So vai vế, vương là anh con nhà bác của Vũ Uy vương. Vương là một nhà bác học, Tam giáo (Nho, Phật, Lăo), Cửu lưu, Bách gia, Chư tử vương đều thông. Về vơ công vương cao hơn Vũ Uy vương một bậc. Về tài dùng binh, vương chỉ thua có Hưng Đạo vương. Nhưng hành trạng của vương là một vị Bồ tát hơn là một đại tướng. Ngoài những lúc cầm quân, vương thường mặc quần áo như một ḥa thượng. Pháp danh của vương là Tuệ Trung.

Vũ Uy vương hô lớn:

– Đệ tử Nhật Duy cùng Ư Ninh xin tham kiến đại sư bá.

Vương hướng Hưng Ninh vương:

– Em xin tham kiến vương huynh.

Vương phi Ư Ninh giới thiệu cử tọa. Mọi người nh́n đại sư Đại Đăng: dáng người cao lớn, nét mặt từ ái, trông ngài như cười mà không phải cười. Vũ Uy vương lên tiếng:

– Không biết cơ duyên nào mà đại sư bá lại quang lâm tới chốn cát bụi này.

Ngài chỉ vào Thiên Phong đại sư:

– Bần tăng đến đây để đón đại giá các vị cao tăng Thiếu lâm lên Yên Tử sơn thanh tu, phổ độ chúng sinh. Cách đây mấy tháng, vào một buổi chiều, bần tăng thấy mười cụm mây tía sáng rực từ phương Bắc tụ lại trên đỉnh Yên Tử sơn, rồi chim bay từng đàn quanh những cụm mây. Hơn một tháng mây mới di chuyển về Thăng long, chim cũng bay theo. Bần tăng biết rằng có cao nhân mang hạnh Bồ tát tới. Hai hôm trước bần tăng thấy mây tía lại từ Thăng long lên đây. Bần tăng theo dơi mới nảy ra đại sư với chư cao đồ hiện diện chỗ này.

Mọi người nh́n ra ngoài lều, quả có mười tảng mấy tía lóng lánh đẹp vô cùng. Một đàn chim đang bay lượn trong đám mây.

Hưng Ninh vương chỉ Đại Đăng:

– Khi anh khởi hành từ Thăng long giải tù binh lên đây th́ gặp sư phụ. Người bảo trong trận giặc vừa qua, Đại Việt được hưởng hạnh Bồ tát của chư tăng từ Trung thổ mang qua. Người đi với anh để tiếp đón.

Thiên Phong đại sư cùng các đệ tử đứng dậy hành lễ:

– A Di Đà Phật! Bần tăng cùng chư đệ tử đang gặp nghịch cảnh. May được Nguyên Phong hoàng đế cùng vương gia đây mở rộng ṿng tay cứu vớt. Nay lại được đại sư mở tâm từ bi tiếp dẫn, thực là đại duyên, đại phúc.

(c̣n tiếp)

Đại sư Đại Đăng hỏi vương phi Ư Ninh:

– Con là đệ tử yêu của Vô Huyền bồ tát, vậy con có biết phái Yên Tử nguồn gốc từ đâu mà ra không?

– Bạch đại sư bá, kiến thức của con hẹp ḥi, mong sư bá dạy cho.

Đại Đăng phóng đôi mắt từ bi nh́n Ư Ninh:

– Để sư bá giảng cho con nghe. Vị tổ khai sáng ra phái Yên Tử là ngài Hiện Quang. Tổ là đệ tử của tổ Thường Chiếu tại chùa Lục tổ, như vậy tổ thừa hưởng y bát từ gịng Vô ngôn thông. Nhân một lần chu du vùng núi Đông triều, tổ thấy mây tía tụ trên đỉnh một ngọn núi như cây nấm, ngài leo lên đỉnh, nh́n ra bốn phương. Phương Bắc tới Trung nguyên, phương Đông ra tận biển, phương Tây là chín mươi chín ngọn núi gối lên nhau. Tổ than: đây là linh địa của Nam phương. Thế rồi tổ đặt tên núi đó là núi Yên Tử (yên là khói, tử là mầu tím). Tổ cho kiến tạo chùa Hoa yên, cạnh ngọn suối. Có lần một vị tăng vân du qua núi Yên Tử thấy tổ, th́ hỏi:

– Ḥa thượng làm ǵ trong núi vậy?

Tổ đáp:

Ná dĩ Hứa Do đức,
Hà tri thế kỷ xuân.
Vô tri cư khoáng dă,
Tiêu dao tự tại nhân.

(Theo Hứa Do người cũ,
Nào biết mấy xuân qua.
Vô vi nơi hoang dă,
Làm người sống tự tại).

Tổ viên tịch niên hiệu Kiến Gia thứ 10 cách đây 37 năm, trước khi viên tịch, Tổ ngồi trên phiến đá đọc một bài kệ:

Huyễn pháp giai thị huyễn,
Huyễn tu giai thị huyễn.
Nhị huyễn giai bất tức,
Tức thị trừ chư huyễn.

(Pháp huyễn đều là huyễn,
Tu huyễn cũng là huyễn.
Ĺa được hai huyễn ấy,
Th́ trừ được mọi huyễn).

Tổ là người khai sơn lập ra phái Yên Tử. Tổ viên tịch, tổ thứ nh́ là Trúc Lâm Quốc sư kế vị. Từ đấy phái Yên Tử có tên Trúc Lâm Yên Tử.

Dă Tượng đứng hầu sau vương chắp tay hỏi :

– Bạch Đại sư ! Con nghe nói Nguyên Phong hoàng đế đang đêm trốn từ Thăng long lên Yên Tử sơn xin thọ giáo, rồi bị Trung vũ đại vương bắt về. Như vậy đức vua giác ngộ rồi trốn đi tu, như xưa kia Thái tử Tất Đạt Đa cũng đang đêm cỡi bạch mă rời kinh thành, vượt sông Hằng đi tu rồi đắc chánh quả vô thượng chính đẳng chính giác, thành đức Thích Ca Mâu Ni sao ?

Đại Đăng mỉm cười :

– Nhận thấy cuộc đời vô thường, bỏ địa vị cao quư t́m lẽ giải thoát th́ cả hai vị giống nhau. Mà hoàn cảnh không giống nhau.

Vương phi Ư Ninh nghe phong phanh rằng sư phụ Vô Huyền bồ tát, trước đây từng là vua Chiêu Hoàng triều Lư, sau khi hạ giá, truyền ngôi cho chồng, được phong là Chiêu Thánh hoàng hậu. Năm sư phụ 19 tuổi chưa có hoàng nam, th́ bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa. Nhà vua phẫn uất đang đêm trốn lên Yên Tử sơn xin thọ giáo đi tu. Nhưng chi tiết th́ không biết rơ. Phi nghĩ : bề ǵ Đại Đăng cũng là Bồ Tát, là đại sư bá của chồng ḿnh, ḷng dạ ngài quảng đại, ḿnh cứ hỏi ắt ngài sẽ nói thực hết.

– Bạch đại sư, con không hiểu.

– Bần tăng biết, luật trong nội cung rất nghiêm. Những uẩn khúc cung đ́nh th́ ngay các hoàng tử, công chúa cũng không được biết. Để bần tăng v́ các con mà nói.

"Sau khi Chiêu Thánh hoàng hậu bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa th́ người được một thần ni thuộc phái Mê linh cứu khỏi hoàng cung, cùng với hai cung nữ thân tín, rồi cho thọ giới pháp danh là Vô Huyền. Hai cung nữ pháp danh Vô Aûnh, Vô Sắc. Lại truyền cho bản lĩnh kiếm thuật thần thông.

Đám Phùng Tập và Thiên Phong cùng bật lên tiếng ái chà. Vương phi Ư Ninh hỏi :

– Không biết có sự ǵ lạ, mà...

Thiên Phong rùng ḿnh :

– Trong trận đánh năm trước bần tăng cùng chư đệ tử đă thấy kiếm pháp thần thông của ba vị sư thái. Nói ra thực xấu hổ, cho đến giờ mỗi lần nghĩ tới bần tăng vẫn c̣n lạnh gáy.

Đại Đăng thuật :

Thái sư Trần Thủ Độ sợ Chiêu Thánh trốn ra các trấn hô hào khởi binh trung hưng Lư triều. Người đem một cung nga giống Chiêu Thánh cho ở trong cung, pḥng khi Chiêu Thánh khởi binh th́ nói rằng đó là Chiêu Thánh giả. C̣n Chiêu Thánh vẫn ở trong cung.

Trong trận B́nh lệ nguyên, tướng quân Lê Tần vào sinh ra tử, cứu hoàng thượng bao phen. Hoàng thượng cho đổi tên là Lê Phụ Trần. Phụ nghĩa là bảo vệ. Vừa lúc đó chính thê của Lê Phụ Trần qua đời. Hoàng thượng thấy cung nữ giả Chiêu Thánh phải sống cô độc trong cung, người động ḷng trắc ẩn, mới truyền gả cho Lê Phụ Trần.

Đại Đăng nh́n Ư Ninh :

– Con là đệ tử yêu của Vô Huyền bồ tát, con nghĩ sao ?

– Nếu con là sư phụ, với kiếm thuật thần thông, con quyết về Thăng long lấy đầu Thái sư Thủ Độ.

– A Di Đà Phật ! Con là nữ tướng th́ con chưa dứt được giới sân. Con nên biết sư phụ con đắc quả Bồ Tát rồi. Nếu người nghĩ đến thù hận, th́ người vào cung cắt đầu phụ hoàng con, lên lại ngôi, tái lập triều Lư. Nhưng người hiểu cái lẽ vô thường :

Triều Lê là không,
Triều Lư là không.
Chiêu Hoàng là không,
Nguyên Phong là không.

Cho nên trong trận B́nh lệ nguyên, người cùng Vô Sắc, Vô Ảnh tả xung hữu đột cứu phụ hoàng con ba phen.

Phùng Tập hỏi :

– Bạch đại sư, đệ tử tưởng chư vị tăng ni khi đă đắc quả Bồ tát rồi, th́ sống ngoài sắc giới. Tại sao ba vị Vô Huyền, Vô Sắc, Vô Ảnh lại lăn vào chốn hôi tanh thi đại sát giới ?

– À, Phùng sư phó mới sang đây nên không hiểu hành trạng của chư tăng Đại Việt. Từ khi Phật giáo truyền vào vùng đất của tộc Việt, chư tăng ni lấy cứu độ chúng sinh làm lẽ chính, giải thoát thứ chi. Bởi vậy những Bồ tát như Bố Đại, Vạn Hạnh, Minh Không, Đạo Hạnh đều lấy đạo pháp để cứu độ dân tộc. Khi thấy dân chúng bị người Hán chém giết, th́ tăng ni cởi bỏ hết giới luật để cứu nước đă.

Phùng Tập reo lên :

– Thảo nào khi tiếp xúc với chư tăng ni Đại Việt, đệ tử thường nghe nhắc đến câu : đạo pháp với dân tộc là một.

Vũ Uy vương thắc mắc :

– Bạch sư bá, liệu phụ hoàng có biết lẽ thâm sâu trong ḷng của Bồ tát không ?

– Hai vị từng là vợ chồng đầu gối tay ấp 12 năm, th́ ǵ mà không hiểu nhau. Vả phụ hoàng con là một vị vua uyên thâm Phật pháp vô cùng. Cả người và Vô Huyền đă đạt tới mức vượt ra ngoài nhân ngă tứ tướng, tới nhân ngă tương thông rồi.

Ư Ninh nghe Đại Đăng thuật, càng muốn biết thêm :

– Xin sư bá tiếp cho.

Quá đau khổ v́ t́nh, đang đêm phụ hoàng con cùng 8 người hầu cận vừa Thái giám vừa Thị vệ trốn ra ngoài thành, dối rằng thăm dân cho biết sự t́nh. Sau khi vượt sông, người truyền tùy tùng đi về, c̣n người th́ người lên Yên Tử sơn t́m lẽ giải thoát. Đám tùy tùng đành khóc từ biệt.

Giờ Măo (5-7 giờ sáng) hôm sau th́ người tới bến đ̣ Đại Than. Sợ dân chúng nhận được, người lấy vạt áo che mặt qua đ̣. Tối hôm đó người nghỉ trong chùa Giác hạnh. Sáng hôm sau lại đi tiếp. Đường xá gập ghềnh, con ngựa mệt quá đi không nổi, người phải bỏ ngựa, mà leo núi. Trưa ngày hôm đó tới núi Yên Tử. Người gặp tổ Trúc Lâm.

Tổ thấy người th́ mừng lắm, ung dung nói với người :

– Bần tăng ở chốn sơn dă đă lâu, xương cứng, mặt gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối vui cảnh lâm tuyền đă quen, ḷng nhẹ như mây nổi, nên theo gió mà lên núi này. Nay bệ hạ bỏ địa vị chí tôn, mà t́m đến cảnh quê mùa rừng núi ; hẳn muốn cầu t́m ǵ đây ? Nghe sư phụ hỏi, hai hàng nước mắt chảy dài, hoàng thượng đáp : Trẫm c̣n thơ ấu, sớm mất mẹ cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không nơi nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp các đế vương phế hưng bất thường ; nên trẫm lên đây chỉ cầu thành Phật chứ chẳng muốn t́m ǵ khác. Tổ đáp : trong núi không có Phật. Người chỉ vào hoàng thượng : Phật ở trong tâm bệ hạ. Nếu để tâm trong sáng, không vướng bụi trần th́ đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm th́ tức khắc thành Phật, không cần đi t́m cực khổ bên ngoài.

Ngày hôm sau, Thái sư đem bá quan lên Yên Tử sơn đón hoàng thượng về. Hoàng thượng nói : Trẫm c̣n trẻ tuổi, chưa cáng đáng nổi việc nặng nề, th́ phụ hoàng đă vội ĺa bỏ, mất chỗ trông cậy. Trẫm không dám ở ngôi vua mà làm nhục Xă Tắc.

Thái sư năn nỉ mấy phen, hoàng thượng vẫn không đổi ư. Người bảo các quan rằng: vua ở đâu th́ lập triều đ́nh ở đó. Nói xong người cắm cây nêu trong núi rồi chỉ chỗ này là điện Thiên an, chỗ kia là điện Đoan minh. Tổ thấy vậy tâu rằng :Phàm làm đấng nhân quân th́ lấy ư muốn thiên hạ làm ư ḿnh, lấy tâm thiên hạ làm tâm ḿnh. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về mà bệ hạ không về th́ sao được ? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng quên.

Ghi chú,

Sau thảm cảnh 1237, vua Trần Thái Tông trở lại Thăng long, làm vua. Ngài vẫn nghiên cứu đạo Phật, giác ngộ, trước tác rất nhiều kinh điển. Các tác phẩm chính là :

Thiền tông chỉ Nam,
Kim cương tam muội kinh chú giải,
Lục thời sám hối khoa nghi,
B́nh đẳng lễ sám văn,
Khoa hư lục,
Thi tập.

Đại Đăng đứng lên chỉ vào đại sư Thiên Phong và chư đệ tử :

– Thôi vương gia hăy lo việc lớn. Bần tăng xin mời đại sư cùng chư đệ tử lên đường về Yên Tử sơn.

Vũ Uy vương đứng dậy tiễn khách. Khi chư tăng đi rồi, vương viết một phong thư trao cho người cao niên nhất trong 18 tục gia đệ tử của Thiên Phong :

– Xin mời các huynh đệ coi Đại Việt như quê hương ḿnh. Lát nữa đây Mông cổ trao trả gia đ́nh các vị, rồi các vị hăy lên đường về Thăng long. Các vị tŕnh thư này cho Hưng Đạo vương, th́ các vị sẽ được trọng dụng.

Như đă ước hẹn, cuộc trao đổi người diễn ra tại Bạc dịch trường Nguyên dương. Hôm sau, ngay khi b́nh minh, mặt trời ló dạng. Hoài Đô, A Truật dẫn đoàn Lôi kị Mông cổ hộ tống mấy trăm cỗ xe, trên chở đàn bà, trẻ con, gia súc tới.

Phía Đại Việt, Hưng Ninh vương, Vũ Uy vương cũng dẫn vương phi, Tạ Quốc Ninh, Dă Tượng và ban Đông hoa; đem gần vạn tù binh gồm người Mông cổ, Tây vực, Hán, Đại lư tới.

Vừa trông thấy vương phi Ư Ninh, A Truật g̣ cương lại nh́n: kư ức cho y biết đây là thiếu nữ đă cùng y giao chiến tại Phù lỗ. Y suưt mất mạng dưới kiếm của nàng. Hôm nay, trong ánh nắng ban mai của mùa Xuân, y gặp lại nàng trong lớp áo quư tộc của Đại Việt, tươi như hoa. Phía sau nàng c̣n năm thiếu nữ sắc nước hương trời trên lưng ngựa. Y vẫn chưa biết cô gái kiếm thuật thần thông trong trận Phù lỗ, nay trở thành vương phi. Y tiến tới chắp tay xá:

– Phải chăng cô nương là Quận chúa Trần Ư Ninh, từng trấn thủ Phù lỗ?

– Đúng vậy. Tạ ơn tướng quân đă nhường cho tôi mấy chiêu bên bờ chiến lũy. Hôm xưa chúng ta giao đấu, suưt nữa th́ kẻ sống, người chết. Hôm nay chúng ta gặp nhau trong nắng Xuân. Mông cổ, Đại Việt không c̣n chém giết nhau nữa.

Vương phi chỉ vào vương:

– Đây là phu quân của tôi. Phụ hoàng ban chỉ cho chúng tôi thành duyên giai ngẫu ngay sau trận Phù lỗ.

Trong trận Phù lỗ tuy tuy A Truật suưt bỏ mạng dưới kiếm của quận chúa Ư Ninh, nhưng sắc đẹp của nàng khiến y ngày mơ, đêm tưởng. Y định sau khi trao đổi tù binh, y xin với Vũ Uy vương tâu lên Nguyên Phong hoàng đế cưới nàng làm vợ. Bây giờ nghe vương phi nói, A Truật cảm thấy miệng đắng, mắt hoa.

Từ lúc vừa nh́n thấy năm nàng Đông hoa, th́ Hoài Đô dán mắt vào Thúy Trinh. Vương phi Ư Ninh nghĩ thầm :

– Tên Hoài Đô này cưới công chúa con của vua Mông cổ là Mông Ca, nên y được cử làm giám quân bên cạnh Ngột Lương Hợp Thai. Uy quyền y lớn hơn cả viên Thái sư này. Ḿnh nghe vợ y mới chết cách đây không lâu. Khi vào Thăng long y đă bắt một trong Tô lịch thất tiên là Bạch Hoa làm tỳ thiếp, không biết có đúng không ? Tuy y sủng ái nàng, nhưng v́ là pḥ mă, y không thể lấy gái có chồng, hơn nữa gái đó lại xuất thân kỹ nữ lầu xanh. Y bị dáng thanh nhă trẻ trung của Thúy Trinh bắt mất hồn rồi. Thúy Trinh tuy trẻ, mà bản lĩnh không trẻ đâu. Chưa biết ai bắt ai !

Nh́n ánh mắt của A Truật, vương phi Ư Ninh nghĩ thầm:

– Tên tướng Mông cổ này suưt bị ḿnh giết chết, nhưng y lại sủng ái ḿnh không thua ǵ A Đa sủng ái Thanh Ngoan. Khác một điều là A Đa sủng ái Thanh Ngoan v́ nhan sắc, v́ ca hát, nên t́nh yêu cực thâm sâu. C̣n A Truật, y yêu ḿnh v́ nhan sắc, v́ cái tươi thắm của gái Việt. Nếu như ḿnh đẩy một trong năm con bé Đông hoa cho y, th́ y sẽ không c̣n chú ư đến ḿnh nữa.

Cuộc trao đổi người bắt đầu.

Phía Đại Việt để Tạ Quốc Ninh cùng mấy quan văn từ Thăng long lên, làm việc với một số quan chức Mông cổ kiểm soát sổ sách, trao đổi người. Tạ Quốc Ninh nhớ đến người vợ là giai nhân Hoàng Hoa cùng 6 người bạn bị Mông cổ bắt đi, hầu hỏi Hoài Đô :

– Thưa pḥ mă, khi quân của pḥ mă vào Thăng long, đă bắt đi rất nhiều thợ giỏi, nghệ nhân, mỹ nữ. Không biết pḥ mă giam họ ở đâu ?

– Những người đó chúng tôi không sát hại đâu, mà đă sai người đưa về Hoa lâm rồi. Trông coi tổ chức cai trị là tôi. Bắt người là Thái sư Ngột Lương Hợp Thai. Để khi quân hầu gặp Thái sư, hỏi người th́ biết.

– Tôi muốn biết bẩy phụ nữ, gọi là Tô lịch thất tiên. Không biết chết sống ra sao ?

Mặt Hoài Đô tái nhợt :

– Tôi không biết ǵ cả.

Vũ Uy vương xá Hoài Đô, A Truật:

– Kính mời pḥ mă cùng đại tướng quân ghé trại chúng tôi thưởng thức thổ sản Đại Việt.

– Như vậy th́ chúng tôi làm rộn vương gia quá.

Để Vũ Uy vương cùng Hoài Đô, A Truật thảo luận về việc trao đổi người, cũng như việc sứ đoàn yết kiến Hốt Tất Liệt. Vương phi ra ngoài, dặn ḍ năm nàng Đông hoa, phải làm ǵ đối với Hoài Đô, A Truật.

Tiệc bầy ra. Vương phi cung tay:

– Trước hết mời nhị vị dùng một món mà cả bên Trung nguyên cũng như Mông cổ đều không có. Đó là chả rươi.

Trong khi vương phi giảng rươi sinh sống ra sao, cách làm chả thế nào, th́ năm nàng Đông hoa trong những bộ áo tứ thân, tha thướt bước vào lều. Mỗi nàng bưng một đĩa chả rươi, mùi thơm ngào ngạt bốc lên. Thanh Ngoan dâng cho vương, Thúy Ngần dâng cho vương phi, Thúy Trinh dâng cho Hoài Đô, Hồng Ngát dâng cho A Truật, Thúy Hường rót rượu. A Truật dán mắt nh́n vào Hồng Ngát. Hoài Đô dán mắt vào Thúy Trinh. Y than thầm:

– Hồi tiến quân vào Thăng long, quân sĩ đă bắt không biết bao nhiêu phụ nữ dâng cho ḿnh, tại sao lại không có những người đẹp như thế này?

Dâng món đầu tiên xong, năm nàng lùi lại, cùng tấu nhạc, rồi Thúy Trinh cất tiếng hát. Nàng hát bài chầu văn, tụng cô Đệ Tứ Khâm Sai. Trong tất cả các bài hát chầu văn th́ bài tụng cô Đệ Tứ Khâm Sai, có nhịp điệu. Khi cung văn hát, người hầu bóng được cô nhập vào, vừa nhún nhảy vừa múa. Nhưng đây Thúy Trinh là Thúy Trinh chứ không phải cô nhập đồng, nên nàng vừa là cung văn hát, vừa là cô Đệ Tứ Khâm Sai. Hoài Đô như mê đi trong âm thanh, trong đường cong nét tươi thắm của Thúy Trinh.

Thúy Trinh làm như vô t́nh, nàng liếc mắt nh́n Hoài Đô rồi mỉm cười.

Hồng Ngát trong bộ áo dài tứ thân, khăn mầu xanh lá cây; áo lót, yếm mầu hoàng yến, dây lưng xanh, đỏ, váy bằng lụa đen trông thực huyền bí. Khi nàng múa, tà áo, dây lưng bay lượn. Trong khoảnh khắc, A Truật như lạc vào cơi tiên; y quên đi kỷ niệm bị kiếm của Ư Ninh bao phủ suưt mất mạng.

Tiếp theo Hồng Ngát, mỗi nàng hát một bài. Quan sát anh mắt, cử chỉ của Hoài Đô, A Truật, vương phi nghĩ thầm:

– Nếu như y chỉ nh́n Thúy Trinh, Hồng Ngát b́nh thường, th́ có lẽ y không rơi vào biển t́nh. Nhưng nh́n Thúy Trinh, Hồng Ngát múa, kèm theo tiếng hát, cơ thể uốn lượn th́ hai viên tướng Mông cổ từng giết người không gớm tay, bị hai nàng hút mất hồn. Chính hai tên này mới như người lên đồng. Rồi đây trong thời gian đi sứ, làm con tin, chúng ta c̣n gặp chúng rất nhiều. Nếu như chúng cảm Thúy Trinh, Hồng Ngát, ta cũng không hẹp ǵ mà không tác thành cho chúng. Thúy Trinh, Hồng Ngát sẽ nắm hồn bọn y. Dùng hai thiếu nữ mà tránh được bọn quỷ sứ tàn phá đất nước, tại sao ḿnh không làm? Đại Việt ḿnh mất hai giai nhân giống như kho thóc hao hai hạt lúa th́ không đáng kể. Vả năm thiếu nữ theo sứ đoàn đều là nữ lưu hào kiệt, sẵn sàng làm nhiệm vụ của con cháu vua Trưng.

Vương phi đứng lên cáo lỗi, ra ngoài để điều động đầu bếp. Nhưng thực ra phi dặn năm nàng phải làm những ǵ, tiếp theo. Phi gọi riêng Hồng Ngát, Thúy Trinh dặn chi tiết phải nói những ǵ, làm những ǵ với Hoài Đô, A Truật.

Tiệc tàn, Hoài Đô lấy ra 5 cái thẻ bài trao cho Vũ Uy vương:

– Ngày mai tôi với A Truật phải đem đám tù binh mới được phóng thích về Độ khẩu. C̣n sứ đoàn th́ nên khởi hành càng sớm càng tốt. Đây là thẻ bài của đại vương Hốt Tất Liệt. Người cầm thẻ bài này coi như chân tay của vương, được quyền đi lại trong lănh thổ của vương. Vậy vương gia cùng sứ đoàn xử dụng để vào Thục hội kiến với đại vương.

Vương, vương phi tiễn Hoài Đô, A Truật khỏi trại. Năm nàng Đông hoa cũng dàn ra trước cổng tiễn khách.

Vũ Uy vương, vương phi cáo từ lui vào trại cùng Thanh Ngoan, Thúy Ngần, Thúy Hường. Mặc Thúy Trinh với Hồng Ngát tiễn riêng Hoài Đô, A Truật.

Hoài Đô lên tiếng gọi A Truật:

– Lên đường thôi!

A Truật thở dài, hú lên một tiếng, y phi thân lên ngựa. Con ngựa tung vó, bụi bay mịt mờ, nhưng y c̣n ngoái đầu lại nh́n Hồng Ngát một lần.

Bản lĩnh Hồng Ngát cao nhất trong năm nàng Đông hoa. Nàng nghĩ: phải bắt được viên tướng này, tuy ta không cầm gươm ra trận, nhưng ta quyết không thua các tướng của vua Trưng. Tay nàng hướng A Truật vẫy, miệng nàng gọi giật lại:

– Đại tướng quân!

Gió hiu hiu thổi, y phục bay phất phới, trong khoảnh khắc nàng giống như tiên nữ. A Truật không ḱm hăm được ḷng. Y g̣ cương, ngựa hí lên dựng hai vó trước, rồi quay đầu lại. Y nhảy xuống ngựa đến bên Hồng Ngát. Nàng sẽ đưa tay lên ngạt cho mắt đỏ hoe, rồi nói bằng tiếng Hoa:

– Đại tướng quân! Em! Em!

– Em có ǵ không vui?

– Đại tướng quân đi thực sao? Bèo mây gặp gỡ, rồi tuyệt đường chim xanh ư?

Nàng chớp chớp mắt, hai giọt lệ chảy xuống g̣ má. Ḷng A Truật nhũn ra, y nói trong hơi thở:

– Th́ anh trở lại đây. Đừng khóc! Đừng khóc.

Hồng Ngát sụt xùi:

– Việc vua, việc nước, việc quân không phải một ngày, một lúc mà xong. Em như bông hoa, hoa nở có th́, hương thơm có độ. Anh nên nán lại đây ăn cơm Việt, nghe em hát ít ngày rồi hăy đi.

Nói rồi nàng kéo vạt áo lau nước mắt, cất tiếng hát, một bài hát bằng tiếng Hoa:

Yên thảo như bích ty,
Tần tang đê lục chi.
Đương quân hoài quy nhật,
Thị thiếp đoạn trường th́.
Xuân phong bất tương thức,
Hà sự nhập la vi?

Hát xong nàng chuyển sang tiếng Việt :

Cỏ Yên xanh biếc như tơ,
Dâu Tần mầu lục, bên bờ xa xa,
Lúc chàng tưởng nhớ về nhà,
Cũng là lúc thiếp bơ phờ quặn đau.
Gió xuân nào có biết nhau,
Tại sao lại thổi cuốn vào màn the ?

Ḷng A Truật nhũn ra, y uống từng lời ca, từng âm thanh của Hồng Ngát. Y khen :

– Bài thơ của Lư Bạch là một bài thơ chết, được em hát, nó như sống dậy để nói cho anh biết rằng anh đang ở trong tâm em.

A Truật bị sắc đẹp, bị giọng hát, bị dáng thanh nhă của Hồng Ngát làm cho y say say như người trong giấc mơ. Gió thổi tà áo nàng bay tung theo gió. Không tự chủ được, y nâng tà áo nàng lên mà hôn, rồi nắm lấy tay nàng. Có tiếng nói bên cạnh :

– Hồng Ngát ! Em đưa A truật tới con thác mà truyện tṛ. Đứng đây vừa nắng, vừa bụi.

A Truật vội bỏ ray Hồng Ngát ra. Y quay lại, người nói câu đó là Dă Tượng. Dă Tượng mỉm cười như trêu, như khoan thứ. Chàng nói nhỏ vào tai y bằng tiếng Hán:

– Cô bé này là em kết nghĩa của Vũ Uy vương phi, tuổi đă 19, nhan sắc diễm lệ, lại giỏi ca hát. Tướng quân mau về nói với phụ vương gửi sứ sang hỏi làm nàng vợ. Để chậm e vương phi gả chồng th́ chẳng hóa ra một tuồng ảo mộng ư?

Hồng Ngát rảo bước về phía thác Chiêu dương. A Truật theo cạnh nàng. Nàng ngước mắt nh́n y:

– Đại tướng quân! Em nghe nói tướng quân là thế tử con của thân vương Ngột Lương Hợp Thai, cháu nội đại vương Tốc Bất Đài. Tướng quân từng chinh chiến khắp thiên hạ, thực là một đấng anh hùng. Cổ nhân nói : Một đời dược mấy anh hùng. Hôm nay bèo mây gặp gỡ trong chốc lát, rồi chúng ta chia tay. Không biết bao giờ chúng ta mới được tái ngộ?

Tim A Truật đập th́nh thịch:

– Em! Không biết em xưng hô thế nào?

Hồng Ngát mỉm cười, mắt đưa ngang:

– Em tên Hồng Ngát. Năm nay 19 tuổi.

A Truật ngập ngừng:

– Em ơi! Không biết mai này Vũ Uy vương lên đường đi sứ, em có được đi theo không? Nếu em được theo sứ đoàn th́ chúng ta sẽ có nhiều cơ hội gặp lại nhau.

Hồng Ngát nghĩ thầm Vương phi hay thực. Tên Mông cổ này biến thành con thỏ cho ta bắt rồi đây:

– Đi sứ sang Mông cổ, đường xá xa xôi, không biết vương gia có cho em theo không? Nếu em được theo sứ đoàn th́ chúng ta c̣n nhiều dịp gặp nhau. C̣n như vương không cho em đi, th́ chẳng hóa ra chúng ḿnh hội ngộ hôm nay đây, rồi kẻ Bắc người Nam, vĩnh viễn không được gặp nhau nữa th́ đời người quả thực là giấc mộng.

– Không thể là giấc mộng được! Anh sẽ nói với phụ vương, sai sứ sang cầu hôn.

Hồng Ngát gợi truyện:

– Anh là cháu một đệ nhất công thần của Mông cổ, không biết Mông cổ có c̣n nhớ lại huân công của ông nội anh không?

A Truật thuật cho Hồng Ngát nghe:

Ông nội tôi là thân vương đời Thái tổ Mông cổ tên Tốc Bất Đài. Người kết bạn với Thành Cát Tư Hăn từ hồi niên thiếu. Người là một trong chín thân vương khai quốc công thần theo thứ tự:

Tốc Bất Đài chỉ huy đệ nhất binh đoàn.

Bác Nhĩ Truật chỉ huy đệ nhị binh đoàn.

Mộc Hoa Lê chỉ huy đệ tam binh đoàn.

Xích Lăo Ôn chỉ huy đệ tứ binh đoàn.

Gia Luật Mễ chỉ huy đệ ngũ binh đoàn.

Triết Biệt chỉ huy đệ lục binh đoàn.

Bác Nhĩ Hốt chỉ huy đệ thất binh đoàn.

Dược Sơ Đài chỉ huy đệ bát binh đoàn.

Bác Khô La chỉ huy đệ cửu binh đoàn.

Thành Cát Tư Hăn gọi chín đại tướng là Cửu đại sơn điêu. Ông truyền lấy quốc kỳ mầu xanh. Trên quốc kỳ, ông truyền vẽ h́nh con chim ưng bay ngang mặt trời, tượng trưng cho cái tên Thiên hỏa điêu đế của ông. Phía dưới quốc kỳ móc chín cái đuôi trâu, tượng trưng cho Cửu đại sơn điêu.

Phụ thân tôi là bạn thân của Hốt Tất Liệt, bào đệ chúa Mông cổ Mông Ca. Mông Ca tuy làm Đại hăn Mông cổ, nhưng tài trí thua xa Hốt Tất Liệt. Sợ Hốt Tất Liệt đoạt ngôi vua, Mông Ca sai Hốt Tất Liệt đem quân đánh Tống, mục đích đẩy Hốt Tất Liệt khuất mắt. Không ngờ Hốt Tất Liệt vào Trung nguyên, ông ta dùng các văn quan, mưu sĩ người Hán, gọi là Hán pháp. Thành công. Binh lực hùng mạnh, tài nguyên phong phú, uy tín vang lừng, áp chế chính quốc Mông cổ. Mông Ca lo ngại, ông ta sai Thừa tướng A Lan Đáp Nhi với hai Tham tri chính sự Lưu Thái B́nh, Ngột A Đa vào Trung nguyên lập ra Câu khảo cục chuyên điều tra, biạ đặt ra tội lỗi của chân tay Hốt Tất Liệt rồi xử tử. Hiện khắp Trung nguyên náo loạn. Đại vương Hốt Tất Liệt đang phân vân một trong hai đường lối hành động: một là đem quân chống lại Mông Ca lập ra triều đ́nh riêng. Hai là về Hoa lâm để tự biện hộ, tự giải oan. Chính v́ vậy mà phụ thân tôi cũng án binh chờ đại vương quyết định. Nếu như đại vương tách ra lập một nước riêng th́ phụ thân tôi cũng sẽ theo. Ngược lại người bị giết th́ phụ thân tôi cũng khó toàn mạng. Ngay trong đạo quân ở Đại lư giữa phụ thân tôi với pḥ mă Hoài Đô cũng ḱnh chống nhau, v́ một người là con rể của Mông Ca, một người là bạn của Hốt Tất Liệt.

Qua lời A Truật, Hồng Ngát nắm được năm tin quan trọng của Mông cổ, mà Khu mật viện Đại Việt cần biết:

Thứ nhất, Hốt Tất Liệt dùng Hán pháp mà thành công ở Trung nguyên.

Thứ nh́, Mông Ca nghi ngờ th́ ít mà ghen tài Hốt Tất Liệt th́ nhiều. Y muốn hạ bệ Hốt Tất Liệt

Thứ ba, Hốt Tất Liệt đang phân vân: hoặc phản Mông Ca. Hoặc chịu về Hoa lâm biện hộ.

Thứ tư, Ngột Lương Hợp Thai tuy là con một Thân vương khai quốc công thần, nhưng v́ là em kết nghĩa của Hốt Tất Liệt nên cũng bị thất sủng. Nếu Hốt Tất Liệt làm phản th́ Ngột Mương Hợp Thai sẽ theo y. C̣n như y bị tước binh quyền th́ Ngột Lương Hợp Thai cũng bị giết hoặc bị cách chức.

Thứ năm, giữa Hoài Đô và Ngột Lương Hợp Thai đang ḱnh chống nhau.

Hồng Ngát thấy anh chàng dại gái, nàng khai thác thêm:

– C̣n pḥ mă Hoài Đô! Người có bị nghi ngờ không?

– Không! Pḥ mă rất được Đại hăn Mông Ca tin tưởng. Hiện giữa người với phụ thân tôi đang ngấm ngầm chống nhau.

Nai đă lọt lưới, cọp đă vào cũi, Hồng Ngát phóng ra chiêu kiếm mà Vũ Uy vương muốn nàng phải hoàn thành:

Hưng Đạo vương cũng như triều đ́nh, thấy Hốt Tất liệt là người tài trí. Y dùng Hán pháp mà thành công. Nếu y tiếp tục cầm quân ở Trung nguyên th́ y sẽ đánh bại Tống. Bại Tống rồi y sẽ đánh Đại Việt. Vậy cần làm cho y bị thu binh quyền. Mông Ca sẽ thân chinh. Mông Ca không có tài, lại kỳ thị người Hoa, trong khi binh tướng Mông Cổ ở Trung nguyên là của Hốt Tất Liệt toàn người Hoa. Mông Ca không thể bại được Tống.

Nàng nũng nịu:

– Anh ơi! Việc Đại hăn Mông Ca với Hốt Tất Liệt đang căng thẳng. Em chỉ mong anh với phụ vương anh b́nh an. Có như vậy chúng ta mới có thể hạnh phúc bên nhau.

– Ư em muốn?

– Nếu như Đại vương Hốt Tất Liệt phản Đại hăn Mông Ca, th́ chiến tranh khủng khiếp sẽ xẩy ra, khó biết kết quả ra sao? Bề ǵ Đại vương cũng là em Đại hăn. Em nghĩ anh nên nói với phụ vương, khuyên Đại vương nên về Hoa lâm, anh em ḥa với nhau là hơn.

– Anh sẽ hết sức khuyên phụ vương làm như em đề nghị.

– Anh cố gắng nhé.

Nàng liếc mắt đưa t́nh, A Truật rung động mănh liệt: Ta phải làm chồng nàng.

Trong khi A Truật với Hồng Ngát song song rời bước về hướng thác nước Chiêu dương, th́ Hoài Đô nh́n Thúy Trinh như ngây, như dại. Thúy Trinh đă được vương phi dặn ḍ:

Uy quyền Hoài Đô lớn hơn Ngột Lương Hợp Thai. Y là một đại tướng đại tài, y được Mông Kha tuyển làm pḥ mă. Vợ y là gái Mông cổ, thô cứng, vừa xấu, vừa dữ, mới chết. Khi vào Thăng long, y tuyển một trong Tô lịch thất tiên là Bạch Hoa làm tỳ thiếp. Nhưng cô này từng trao thân cho bọn Hồ Hồi, hơn nữa là gái có chồng. Địa vị y không thể tuyển nàng làm vợ. V́ vậy y đang như con thuyền không lái. Em phải làm cho y ngây ngất với nét son trẻ, cùng cái mềm mại thanh cao. Như vậy y sẽ thành con nai cho em sai khiến.

Hoài Đô nh́n Thúy Trinh, nàng đă thay y phục: áo bên trong mầu hoàng yến, áo choàng ngoài vạt tím, vạt hồng. Dưới ánh nắng, trông nàng rực rỡ, chói chang, ánh mắt lung linh như nước hồ thu. Nàng mỉm cười nói tiếng Hán với Hoài Đô:

– Pḥ mă! Người, người định về thực sao?

Bị choáng váng trong bữa tiệc, bị mơ màng trong tiếng hát của Thúy Trinh. Hoài Đô vừa tỉnh th́ bị nàng hỏi một câu ngoài sự mong ước của y. Y nảy ra ư so sánh Thúy Trinh với Bạch Hoa. Khi chưa sang Đại Việt, y đă nghe bọn Tế tác nói về Tô lịch thất tiên. Sau lại được bọn đạo sĩ Hồi giáo ca tụng các nàng. Khi vào Thăng long, bắt được Thất tiên, th́ Ngột Lương Hợp Thai dùng Hoàng Hoa làm tỳ thiếp. Y tuyển Bạch Hoa làm của riêng. Nhưng sau những lúc chăn gối, y nhận thấy Bạch Hoa chỉ có nhan sắc, thiếu dịu dàng, kém t́nh tứ hấp dẫn. V́ vậy y không say mê cho lắm. Bây giờ gặp Thúy Trinh, nàng hơn hẳn Bạch Hoa cái son trẻ, yểu điệu, t́nh tứ, dịu dàng th́ tam hồn thất phách y bị hút mất.

Y nói lắp bắp:

– Tiểu cô nương! Tôi cũng không vội lắm. Nếu tiểu cô nương cho phép, tôi sẽ nán lại.

Thúy Trinh chỉ về phía trước:

– Kia là thác nước Chiêu dương, nước đổ xuống đẹp như Thiên thai. Chúng ta tới đó hưởng nét đan thanh của núi rừng, vẻ hùng vĩ của tạo hóa.

Tuy bị sắc đẹp Thúy Trinh làm cho ngây ngất, nhưng y vẫn chưa hoàn toàn bị lọt lưới:

– Tiểu cô nương. Cô nương với đi tôi như thế này mà không sợ Vũ Uy vương trách phạt ư?

Thúy Trinh nghiêng nghiêng đầu, ánh mắt trong như nước hồ thu:

– Trước kia mà em nói truyện với anh thôi th́ sẽ bị chặt đầu. Bây giờ giữa Mông cổ với Đại Việt ḥa rồi. Vương đang trên đường đi sứ sang Mông cổ làm con tin th́ em thân với anh, vương không bực ḿnh mà c̣n vui vẻ là khác.

Nghe Thúy Trinh nói, tai Hoài Đô ù đi. Y như người say rượu:

– Nào chúng ta cùng đi.

Hai người song song nhẹ bước.

Nhớ lời Vũ Uy vương phi dặn, Thúy Trinh giả bộ ngây thơ gợi truyện :

– Pḥ mă, không biết anh kết hôn với công chúa con của vị hoàng đế nào ?

– Người Mông cổ không gọi chúa nước ḿnh là vương, là hoàng đế mà gọi là Hăn, Đại hăn. Khi anh 20 tuổi, nhờ lập chiến công, anh được Đại hăn Mông Ca gả cho một công chúa.

– Ái chà ! Chắc công chúa đẹp như tiên nữ !

– Lănh địa Mông cổ nằm trải trên vùng thảo nguyên mênh mông. Mùa đông thị lạnh cắt thịt, xé gia. Mùa hè th́ nóng như thiêu như đốt, nên phụ nữ thô cằn, không đẹp. Con gái của các Hăn, Đại hăn đều phải tập bắn cung tên, xung trận, cỡi ngựa, người cứng ngắt, đâu biết đàn, ca, múa, cũng chẳng học văn tự. V́ vậy các tướng cầm quân đánh sang Trung nguyên, Đại lư, Đại Việt, hầu hết cưới vợ tại đây.

Y thở dài :

– Vợ anh đẹp hay không đẹp th́ cũng chẳng nên nhắc tới. V́ nàng tử nạn trong một lần diễn tập phi ngựa cách đây hai năm.

– Chia buồn cùng pḥ mă. Không biết anh có định tục huyền không?

– Có chứ. Khi chưa nhập Việt, anh từng nghe nói gái Việt đẹp nức tiếng trong lịch sử. Nàng Tây Thi từng làm tan nát cả một nước Ngô. Việt vương chỉ dùng một Tây Thi mà bớt đổ biết bao nhiêu máu, thành công vĩ đại.

Thúy Trinh nghĩ thầm:

– Tên này khôn gớm! Y tấn công, dọa già ḿnh đây. Con bé Thúy Trinh này không sợ mi đâu.

Nàng cười khúc khích:

– Tiếc quá, Nguyên Phong hoàng đế chê em là con nít không dùng em. Bằng không người đem em cống cho Đại hăn Mông Ca, th́ nhất quyết em không thua Tây Thi. Này, hay pḥ mă xin với Vũ Uy vương mang em về Mông Cổ rồi cống cho vua Tống. Như vậy Mông cổ không tốn xương máu mà hạ được Tống.

Hoài Đô lắc đầu:

– Anh không dại ǵ mà cho em gặp Mông Ca hay vua Tống. Hai ông này thấy em, e không phong làm hoàng hậu, cũng phong làm quư phi. Không! Kỳ này Vũ Uy vương sang làm con tin, anh sẽ xin vương gả em cho anh. Anh nói một là một, hai là hai.

– Em nghe nói hôm vào Thăng long anh đă tuyển một giai nhân làm tỳ thiếp. Có không?

– Có. Hôm anh vào Thăng long, bọn Hồi hột có giúp anh bắt được 7 đệ nhất giai nhân Đại Việt. Anh thu dụng một người, những tưởng có thể dùng làm vợ. Nhưng anh thất vọng. Về nhan sắc, cầm ca e người này không thua em làm bao. Song cô ấy chỉ có sắc đẹp, lại hơi lớn tuổi, kém thông minh. Anh chỉ có thể dùng làm tỳ thiếp khi chưa có vợ bên cạnh, mà không thể dùng làm chính thiếp. V́...

– V́ sao?

– Cô ấy xuất thân là gái lầu xanh, bướm chán ong chường. Sau lại làm thứ thiếp cho một tước vương Đại Việt. Anh mà dùng cô ấy làm chính thê th́ triều đ́nh Mông cổ sẽ chém đầu anh ngay. Chỉ có em mới xứng đáng làm vợ anh.

– Pḥ mă ơi! Tuổi em c̣n quá trẻ, lại vụng về. Sợ rằng làm phu nhân một đại tướng Mông cổ không nổi. Em lại làm pḥ mă thất vọng nữa mà thôi.

– Không! Em vừa thông minh, vừa có cái vốn Hán học cao, lại vừa c̣n là trinh nữ. Hiện giờ Mông cổ sắp sửa dẹp xong Tống, cai trị Trung nguyên. Em làm vợ anh th́ thực là điều anh ước mơ.

Nhớ lời Vũ Uy vương phi dặn, Thúy Trinh gợi truyện:

– Em muốn hỏi một truyện. Như anh nói, anh sẽ xin hỏi em làm vợ, em mới ṭ ṃ.

– Em ṭ ṃ ǵ?

– Giữa anh với Ngột Lương Hợp Thai, th́ ai có quyền hơn ai?

– Hợp Thai toàn quyền về tác chiến, hành quân. C̣n anh là đại diện Đại hăn, anh quyết định về chính sách, ngoại giao, cai trị, bổ nhiệm quan chức.

Thúy Trinh thấy bây giờ là lúc ḿnh thi hành đại kế của Hưng Đạo vương mà Vũ Uy vương dặn ḿnh: giải binh quyền Hốt Tất Liệt, khuyên y về Hoa lâm.

– Hiện giờ đại vương Hốt Tất Liệt uy quyền áp chúng, không coi Đại hăn ra ǵ. Ngày một, ngày hai, đại vương cũng đem quân chống Đại hăn, lập ra một nước biệt lập với chính quốc, rồi mang quân về chiếm Hoa lâm. C̣n anh, em biết rơ rằng anh là pḥ mă th́ anh nghiêng về Đại hăn. Bấy giờ đại vương Hốt Tất Liệt sẽ hại anh. Anh bị hại, th́ thân phận em liệu có sống được chăng?

Hoài Đô tỏ vẻ cương quyết:

– Hốt Tất Liệt sắp bị thu binh quyền rồi. Ông ta không dám làm phản đâu. Cái vụ đ̣i Đại Việt cử người làm con tin là do Hốt Tất Liệt, chứ không phải do Đại hăn. Khi Vũ Uy vương tới Côn minh, ông ta sẽ giữ vương lại, chứ không để vương đi Hoa lâm đâu. Anh sẽ dùng quyền đại diện Đại hăn cương quyết hoặc để vương về nước, hoặc để vương đi Hoa lâm.

Thúy Trinh ngước mắt nh́n Hoài Đô:

– Khi bầy tôi mạnh hơn chúa th́ có hai việc xẩy ra. Một là chúa ra tay trước trừ bầy tôi. Hoặc bầy tôi phản chúa.

– Anh hiểu ư em. Anh sẽ nhờ Vũ Uy vương t́m đủ mọi cách giải binh quyền Hốt Tất Liệt. Hiện giờ Câu khảo cục của Thừa tướng A Lan Đáp Nhi với hai Tham tri chính sự Ngột A Đa, Lưu Thái B́nh đang đi khắp lănh thổ của ông ta, trừ hết chân tay thân tín của ông ta.

Thúy Trinh nghĩ thầm:

Nai đă vào lưới. Đại bàng đă bị ta bắt giam trong đôi mắt rồi.

Khi dạy Hồng Ngát, Thúy Trinh bắt hai con nai A Truật, Hoài Đô, vương phi Ư Ninh đă tính toán trước: A Truật c̣n trẻ, dại gái, phi dùng Hồng Ngát là người có bản lĩnh, dẫn dắt y theo dễ dàng. C̣n Hoài Đô, y đă lớn tuổi, kinh nghiêm đời, từng trải, không biết bao nhiêu gái đẹp dă qua tay y, th́ dùng Thúy Trinh. Thúy Trinh c̣n trẻ, giả ngây thơ, y mới không đề pḥng. Quả nhiên bây giờ nàng đă khích y, dọa y để y giải trừ binh quyền Hốt Tất Liệt. Nàng lại moi được những bí mật nhất của triều đ́nh Mông cổ. Những bí mật này tuy Ngột A Đa đă cung cấp nhưng quá sơâ sài. Bây giờ mới có chi tiết. Hoài Đô dă xác nhận:

Thứ nhất, Giữa anh em Mông Ca, Hốt Tất Liệt đang có sự chia rẽ trầm trọng. Mông Ca lập Câu khảo cục để tỉa bớt chân tay Hốt Tất Liệt, rồi từ từ giải binh quyền của y.

Thứ nh́, Hoài Đô là người của Mông Ca. Ngột Lương Hợp Thai là người của Hốt Tất Liệt. Hai bên đang ḱnh chống nhau.

Thứ ba, Hốt Tất Liệt đ̣i Đại Việt gửi người sang làm con tin với ư định nắm Đại Việt trong tay, để gây thế lực, chống Mông Ca.

Thứ tư, khi Vũ Uy vương tới Côn minh th́ Hốt Tất Liệt giữ lại. Hoài Đô sẽ phản đối, đ̣i vương phải di Hoa lâm.

Đạt được mục đích, Thúy Trinh cần tỏ ra thiết tha, để Hoài Đô không nghi ngờ:

– Bây giờ Đại Việt với Mông cổ hết chiến tranh rồi. Vũ Uy vương sang Hoa lâm làm con tin. Liệu pḥ mă có nghĩ tới về Đại Việt chơi không?

– Anh chưa nghĩ tới. Sao em lại hỏi như thế?

– Em là đứa con gái ở măi xứ thấp nhiệt, nếu như được làm vợ một đại tướng như anh, th́ danh dự nào bằng? Nhưng danh dự ở Mông cổ, ở Trung nguyên th́ có cũng như không? Nếu như pḥ mă dẫn em về thăm quê th́ mát mày mát mặt với họ hàng, làng xóm.

Hoài Đô lớn tuổi hơn A Truật nhiều, y lại kinh nghiệm dạn dầy về đàn bà. Lúc đầu nghe Thúy Trinh múa, hát y quả bị choáng váng. Tuy vậy y chưa bị lọt lưới. Sau khi trao đổi ít câu với Thúy Trinh y mới thưc sự rung động. Y nói:

– Hôm nay chúng ta được trao đổi với nhau những tâm t́nh thế này là nhờ lượng cả của Vũ Uy vương. Thôi chúng ta tạm ngừng, khi sứ đoàn tới Hoa lâm, ḿnh sẽ gặp lại nhau.

– Nhưng! Em sợ.

– Em sợ ǵ?

– Như anh nói, anh sẽ xin với Vũ Uy vương cưới em làm vợ. Vũ Uy vương vừa nể, vừa kính trọng anh, chắc vương gia sẽ đồng ư. Anh phải làm sao cho sứ đoàn đi Hoa Lâm mới hy vọng chúng ta thành vợ chồng. Muốn thế th́ phải giải trừ binh quyền của Hốt Tất Liệt.

– Em yên tâm. C̣n trời c̣n đất, c̣n sông c̣n núi, anh quyết làm cho được. Quyết dùng hết tài trí để được em.

Thúy Trinh nghĩ thầm:

Bắt con sư tử Hoài Đô quả quá khó. Nhưng y đă lọt lưới. Y lại dùng tài trí để hạ bệ Hốt Tất Liệt.

Hoài Đô, A Truật lên đường rồi, vương phi nói với Thúy Trinh, Hồng Ngát:

– Giỏi! Thúy Trinh, Hồng Ngát đă bắt được ba hồn bẩy vía của Hoài Đô, A Truật rồi. Chúng ta đă biết hết nội t́nh Mông cổ. Màn kịch này hay quá. A Truật nài nỉ Ngột Lương Hợp Thai khuyên Hốt Tất Liệt nên về Hoa lâm. Hoài Đô một phần dùng uy quyền, một phần tấu về triều cho Mông Ca biết cái nguy Hốt Tất Liệt. Nhưng hai em phải cứng bóng vía nghe! Không thể để ḿnh biến thành con mèo cho chúng sai bảo.

Vương họp sứ đoàn trong lều. Vương phi nh́n năm nàng Đông hoa với tất cả yêu thương:

– Không ngờ trên bến Bắc ngạn, Thanh Ngoan treo bảng tuyển phu, đưa đến anh chị gặp năm em. Về nhan sắc, cả năm đều thuộc loại quốc sắc, thiên hương. Về âm nhạc năm em đều thuộc loại tay tiên. Các em nên nhớ, một cái liếc mắt, một nụ cười của các em mạnh bằng trăm chiêu kiếm. Các em có ba ưu điểm: một là thuộc gịng giống Việt, có hùng tâm tráng chí của vua Trưng, của Triệu trinh vương, sẵn sàng hy sinh cho Đại Việt; v́ vậy khi hành sự th́ thần trí minh mẫn. Hai là nhan sắc các em tươi thắm, khác hẳn với gái Mông cổ, thô, cứng. Ba là nếu các em chỉ xinh đẹp thôi, e không dễ ǵ bắt nai Mông cổ được; nhờ các em giỏi âm nhạc, nên lúc hát, khi đàn, thân thể uốn lượn, th́ anh hùng đến đâu cũng bị nghiêng ngả.

Năm nàng nghe phi giảng giải, như người mù được mở mắt. Phi tiếp:

– Đối với đàn ông, họ có thể là vua chúa, là đại tướng, một lệnh họ ban ra khiến hằng vạn người chết, khiến thành nghiêng núi đổ. Họ có thể là những cao thủ vơ lâm, một chiêu đánh ra, làm voi, làm cọp chết. Nhưng nếu các em biết xử dụng nụ cười, liếc mắt, uốn ḿnh, các em có thể biến vua chúa, tướng lĩnh dữ như sư tử, như beo, như cọp thành những con chó ngoan ngoăn cho các em sai. Các em có thể biến họ từ con diều hâu thành con bồ câu, giam họ trong đôi mắt các em.

Vương tiếp lời phi:

– Trong nước vừa trải qua cuộc chiến, biết bao người chết, nhà cháy. Các vị vương từng cùng anh lăn ḿnh vào chỗ gươm đao để bảo vệ đất tổ, để bảo vệ dân chúng. Trung vũ đại vương Trần Thủ Độ, Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư... và hằng trăm, hằng ngh́n tướng từng xuất mă. Bây giờ có cuộc chiến mới, các em là những tướng ra trận. Một liếc mắt như ngàn lưỡi đao, vạn lưỡi kiếm. Một nụ cười bằng vạn mũi tên. Anh nói ít, các em hiểu nhiều.

Nghe vương phi, vương giảng giải, năm nàng cảm thấy hùng tâm, tráng chí ngùn ngụt bốc dậy. Vương phi tiếp:

– Thanh Ngoan, Thúy Ngần đă thành công với Ngột A Đa, A Lan Đáp Nhi. Thúy Trinh đă thành công với Hoài Đô. Hồng Ngát đă thành công với A Truật. C̣n Thúy Hường chị sắp sửa cho em lâm trận.

 

BÀI ĐỌC THÊM

Để độc giả hiểu thêm về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chúng tôi kính mời độc giả đọc bài nghiên cứu của Ḥa thượng Thích Phước Đạt đính kèm.

A Di Đà Phật, kính bạch Ḥa thượng Phước Đạt.

Đệ tử là Yên Tử cư sĩ đỉnh lễ trước Ḥa thượng, về cái tội tự đem bài này vào đây mà không xin phép thầy trước. Với ḷng dạ quảng đại của một cao tăng, xin thầy xí xái cho cái tội này.

Trần Thái Tông với chủ trương thiết lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Nếu Trần Nhân Tông được nhân dân Đại Việt tôn xưng là Phật Biến Chiếu Tôn của nước Đại Việt bấy giờ, th́ vua Trần Thái Tông là người xứng đáng là được tôn vinh là Bó đuốc Thiền tông, đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nảy mầm, và phát triển truyền thừa trong lịch sử Phật giáo nước nhà.

Không phải ngẫu nhiên Lễ bộ Thượng Thư Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu, tri Kinh diên sự, Đôn Thư bá, Trụ quốc, Lê Tung vâng theo sắc chỉ biên soạn Việt giám thông khảo tổng luận, có đoạn viết rằng:

“Triều Lư trải qua 8 đời vua, ngôi truyền hơn 200 năm, bậc đáng khen là Thái Tổ có độ lượng là đế vương. Thái Tông có tư chất trí dũng. Thánh Tông có ḷng yêu nước thương dân, Nhân Tông có đức ban ơn dân. Song Thái Tổ lập hoàng hậu ba ngôi, t́nh vấn vít yêu, mà đạo nhà không chính. Thái Tông làm ra núi năm ngọn, đương tang lại vui, mà đạo hiếu đă vơi.

Thánh Tông theo vết của Thái Tổ mà lập hoàng hậu quá định chế. Nhân Tông quá nghe theo lời mẹ đẻ mà giam chết mẹ đích, c̣n như cấm các con gả con gái lấy chồng, mà Thần Tông th́ say đắm nữ sắc quá lắm. Yêu nuôi kẻ bề tôi dâm loạn th́ Anh Tông thật quá nuông chiều tiểu nhân.

Cao Tông lấy hoang dâm làm thích, Huệ Tông lấy tửu sắc làm vui. Đạo tu tề trị b́nh của đế vương có như thế chăng? Bề tôi trong triều th́ có Lư Huệ Thành được kư thác vua côi, Tô Hiến Thành được giữ chức phụ chính, cũng phảng phất như trung ái của Y Doăn, Chu Công, cố nhân đáng khen. C̣n những bậc như Đào Cam Mộc, Đào Thạc Phụ, Lương Nhậm Văn, Đào Xử Trung, Lư Đạo Kỷ, Liêu Gia Trinh, Kim Anh Kiệt, Tào Lương Hàn, Dương Cảnh Thông, Nguỵ Trọng Hoằng, Lưu Vũ Nễ, Lư Công B́nh, Hoàng Nghĩa Hiền, Lư Kinh Tu, không biết can vua để nêu tục tốt, cho nên chính trị không được bằng đời cổ là phải. Đến như Đỗ Anh Vũ kiêu dâm, Đàm Dĩ Mông ngang ngược, có kể làm ǵ”.

Trần Thái Tông ứng mệnh trời trao cho, nhận Chiêu Hoàng nhường ngôi, có đức nhân hậu, có tính giản dị chắc chắn, đánh giặc yên dân, mở khoa th́ lấy người giỏi. Tể tướng th́ chọn người tôn thất hiền năng, triều điển th́ định ra lễ nghi h́nh luật, chế độ nhà Trần do đấy hưng thịnh”.

Rơ ràng, lời nhận định trên đă cho chúng ta có một cái nh́n khá khách quan lịch sử trong tiến tŕnh dựng nước và giữ nước lúc thịnh vượng cũng như trên đà suy vong của triều đại nhà Lư, để rồi phải trao vận mệnh quốc gia cho triều đại nhà Trần.

Tại đây, ngoài sức mạnh toàn dân, vai tṛ lănh đạo của các ông vua đối với thần dân qua các triều đại vô cùng quan trọng đối với xă hội phong kiến. Điều này, ít nhiều lư giải, mỗi khi nhà vua, người đứng đầu bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền không đủ tài đức lănh đạo, quản lư đất nước th́ sẽ dẫn đến sự suy sập, ngược lại một ông vua nhân từ trí đức song toàn th́ có thể lănh đạo nhân dân giải quyết các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong nước, cũng như đối phó các thế lực đế quốc lân bang và tập trung nhân lực tài lực xây dựng và phát triển quốc gia hùng mạnh.

Việc vua Trần Thái Tông lên ngôi báu khai sáng ra triều đại nhà Trần là đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đất nước bấy giờ. Một là thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ trong ư chí thể hiện qua hành động. Hai là trên dưới đồng ḷng, cùng nhau xây dựng phát triển đất nước thịnh vượng và bảo vệ vững chắc các thành quả đạt được với bất cứ thế lực nào cố t́nh đe doạ. Ngoài việc thực hiện trọn hai mục tiêu đề ra, Trần Thái Tông c̣n đặt cho ḿnh một nhiệm vụ hết sức trọng đại cần phải được đề cập là Ngài chủ trương đặt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Tỳ- ni- đa- lưu- chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, tiến đến sát nhập và h́nh thành ḍng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy nhất đời Trần.

Hay nói một cách chính xác và cụ thể, người khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Trần Nhân Tông làm đệ nhất Tổ, nhưng người có công đặt nền móng thiết lập cho Thiền phái Trúc Lâm phát triển và truyền thừa từ mô h́nh tổ chức cho đến nội dung tu tập hành tŕ, tất cả đều mang tính độc lập và thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông.

Sự kiện ra đời ḍng thiền này có ư nghĩa rất lớn, nó đáp ứng nhu cầu lịch sử của dân tộc là xây dựng một đất nước Đại Việt độc lập tự chủ không chỉ được xác định trên cương thổ biên giới về địa lư mà c̣n độc lập tự chủ trên mọi phương diện lĩnh vực chính trị kinh tế, văn hoá và ngay cả tôn giáo. Thế nên, dù trong cương vị là vị Hoàng đế, hay là Thái thượng hoàng hay là vị Thiền sư. Ngài luôn khát khao thiết lập ḍng thiền mới mang tính cách Đại Việt và thật phù hợp với bối cảnh lịch sử dân tộc đă sang trang và t́nh h́nh phát triển của đất nước Đại Việt.

Theo Nguyễn Duy Hinh, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời dựa trên hai tiền đề xă hội và tôn giáo h́nh thành trong hoàn cảnh lịch sử của nước nhà. Về mặt xă hội, nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, công việc cấp bách thiết thực nhất đặt ra trước mắt các nhà lănh đạo tối cao là xây dựng một ư thức hệ độc lập thống nhất gồm 4 mục đích chính:

1. Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ư thức hệ với nước ngoài để thanh toán hoàn toàn mọi cơ sở của nước xâm lược.

2. Làm cơ sở tư tưởng để thống nhất ư thức dân tộc về mặt chính trị để củng cố sự thống nhất dân tộc một bước nữa.

3. Làm công cụ thống nhất quyền lực vào chính quyền Trung ương, tức quy tụ vào họ Lư và Trần.

4. Làm phương diện giải quyết các mân thuẫn nội bộ dân tộc chủ yếu là giai cấp lănh đạo và đông đảo nhân dân quần chúng nhằm duy tŕ một trật tự xă hội và cũng tức là duy tŕ ngai vàng của ḍng họ.

Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ư thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội dung của các thiền phái để đáp ứng các yêu cầu căn bản như đă nói trên. V́ thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập, thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc hơn, hướng đến các mục tiêu sau:

1. Tự ḿnh phân biệt với Thiền tông ở Trung Quốc biểu lộ tính độc lập.

2. Thay đổi một phần nội dung tiêu cực và thân ngoại quốc của các phái Thiền tông trong nước.

3. Vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo để nhằm thống nhất ư thức hệ. Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đă xảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như Thiền tông với các tín ngưỡng khác, do đó thu hút các tín ngưỡng khác.

4. Tự khoác cho ḿnh chiếc áo một tôn giáo mới – tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng.

Thực tế, tư tưởng lập Thiền phái mới được manh nha từ khi Phật giáo chủ trương mới, nhập thế, tuỳ tục, tùy duyên nhưng bất biến để đáp ứng các yêu cầu lịch sử dân tộc đặt ra của một đất nước vừa độc lập và đang thực hiện thống nhất trên mọi phương diện.

Là ông vua đầu tiên nhà Trần, dưới cái nh́n của một nhà chính trị. Trần Thái Tông càng cương quyết thực hiện ư tưởng đó. Khi chấp nhận lời khuyên của Quốc sư Phù Vân như là quan điểm chính trị phục vụ đạo pháp và dân tộc. Phàm làm đấng quân nhân th́ phải lấy ư muôn thiên hạ làm tâm của ḿnh th́ ư tưởng thống nhất các thiền phái thành Phật giáo Nhất tông là điều tiên quyết đối với sứ mệnh quốc gia và cả đạo pháp.

Dưới ảnh hưởng và uy tín của nhà vua vào thế kỷ thứ XIII, ba Thiền phái Tỳ – ni - đa – lưu – chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đă theo thời gian lịch sử, dần dần sát nhập khiến cho Thiền phái Yên Tử thành Thiền phái Trúc Lâm duy nhất đời Trần, thống nhất tất cả các Thiền phái thời bấy giờ. Người khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Trần Nhân Tông, mệnh danh là Trúc Lâm Đại đầu là Điều ngự Giác Hoàng, nhưng người có công đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm phát triển từ mô h́nh tổ chức cho đến nội dung tu tập hành tŕ là Trần Thái Tông.

Rơ ràng, Trần Thái Tông đă thực hiện hoài băo của ḿnh kể từ ngày ông trở về kinh đô nắm giữ triều đại, tuy nhiên Ngài vẫn chuyên tâm nghiên tầm kinh điển Phật và cả Nho suốt gần 10 năm trời. Ngài đă nỗ lực công phu tu tập, hành tŕ và cuối cùng cũng chứng ngộ Trần Thái Tông bừng sáng lư nghĩa kinh Kim Cương, một bản kinh giới thiệu trí tuệ giải thoát có thể giúp hành giả thấy rơ thực tướng của vạn hữu, xuất hiện từ sự dập tắt các ngă tưởng bao gồm ngă tưởng, nhân tưởng, chúng sanh tưởng, thọ giả tưởng, pháp tưởng, phi pháp tưởng, tưởng, phi tưởng.

Hay nói cách khác, Ngài đă trực ngộ bản kinh Kim Cương ở chỗ cốt yếu: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Xem ra, từ chỗ trực ngộ này, Trần Thái Tông đă sáng tác bài Thiền tông chỉ nam có lẽ nhằm tŕnh bày sở đắc của ḿnh trong quá tŕnh nghiên cứu điển Thiền tông, thực tập công phu hành tŕ. Chúng ta cũng có thể hiểu cái trí tuệ mà Trần Thái Tông sở ngộ đó chính là kim “chỉ nam” của Thiền tông, như ánh sáng rọi soi vào rừng Thiền. Sự chứng đắc, sở ngộ của các Thiền sư thực chất là sự chứng đắc, sở ngộ cái Không tính của vạn pháp, hay nói cách khác là chứng đắc thực tướng vô tướng của mọi hiện hữu vạn pháp. Suy cho cùng, đó là Vô ngă tính, hay Duyên khởi tính ở ngoài ṿng chấp thủ của thế giới “đang là”, được soi rọi từ cái nh́n trí tuệ chân thực.

Rơ ràng, công phu các Thiền gia chứng ngộ bao giờ cũng giác tỉnh an trú tâm vào tâm không dính mắc vào bất cứ điều ǵ hiện hữu trên đời. Chính cái tâm “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” mà kinh Kim Cang nói đến đă làm khai mở trí tuệ vua Trần Thái Tông như đă từng khai mở trí tuệ ngài Huệ Năng xưa kia. Trong kinh Kim Cang hành giả Tu Bồ Đề thỉnh cầu đức Phật lư giải người phát tâm vô thượng Bồ đề, làm thế nào an trụ và làm sao hàng phục cái tâm ấy? Chính Thế Tôn đă chỉ dạy phương pháp an trụ tâm ấy là: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm”. Nghĩa là, hành giả phát tâm vô thượng Bồ đề không nên trụ nơi sắc mà sanh tâm, không nên trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm ấy. Tâm vô trụ ấy là tâm vô thượng Bồ đề.

Xem ra, bất cứ hành giả nào khi tiếp cận với sáu trần mà c̣n bị hệ luỵ bởi tâm tham ái và chấp thủ th́ chưa an trụ và hàng phục tâm. Thực tế, một tâm không trụ chỗ nào hết là cái tâm chân thật, tâm thanh tịnh. Khi hành giả tiếp cận các pháp trần th́ khởi niệm giác tỉnh vô ngă tưởng ngay giữa ḷng đời. Cũng chính tại chỗ ngộ này mà Lục Tổ thốt lên: “Nào ngờ tự tính vốn tự thanh tịnh, vốn không sinh diệt, vốn tự đầy đủ vốn không lay động, có thể sanh muôn pháp”. Ư tứ câu này là tâm ḿnh xưa nay vốn thanh tịnh, nhưng do sáu căn bị lôi cuốn theo sáu trần nên chúng ta bị hệ luỵ giữa cơn lốc cuộc đời. Như vậy để thăng chứng, người hành giả cần phải nuôi dưỡng cái tâm vô trụ bằng công phu phát triển định và tuệ. Điểm này thật phù hợp với kinh điển Nikaya mà đức Phật đă tuyên thuyết qua tinh thần kinh Tử niệm xứ: “chú tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, không trú trước vào bất cứ điều ǵ ở đời”.

Con đường đó trở thành kim chỉ nam của Ngài để đi vào thế giới công phu thiền quán. Ngài khuyến cáo mọi người cần phải giữ sáu căn thanh tịnh khi tiếp xúc sáu trần qua phương pháp thực hành sám hối. Sám hối là h́nh thức phản tỉnh để tịnh hoá tâm thức ra khỏi vùng tâm thức bị rối loạn v́ chúng bị chất chứa các hạt giống tham sân si nên không an trú trong định và không phát huệ được.

Cho nên Trần Thái Tông mới biên soạn khoa nghi sám hối để “tự làm lợi cho ḿnh để làm lợi cho người ta”, mục đích là trở về cái tự tánh vốn thanh tịnh trong sáng không bị cấu nhiễm bởi các trần. Ngài viết:

“Tâm nhi tư chi, nhân chi tích tích hữu nghiệp giả tận thị lục căn sở tạo. Thị dĩ Thích Ca Văn Phật vị thành đạo th́, tiên nhập Tuyết Sơn lục niên khổ hạnh, cái vị lục căn cố dă. Nhân phỏng kỳ ư, đi lục căn phân vi lục th́, nhất th́ lễ sám nhất căn; thân chế kỳ nghi văn , mục chi viết “Lục th́ lễ Phật sám hối khoa nghi”.

Bản dịch của Thơ văn Lư Trần tập 11 dịch :

“Sau đó lại nghĩ rằng: Phàm những nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn tạo thành, cho nên Thích Ca Văn Phật khi chưa thành đạo trước tiện phải vào Tuyết Sơn tu hành khổ hạnh trong sáu năm, cũng v́ sáu căn đó. Vậy Trẫm phỏng theo ư ấy, chia sáu căn thành sáu th́, mỗi th́ sám hối một căn. Trẫm tự tay viết ra lời sám, gọi là “Lục th́ lễ Phật sám hối khoa nghi”.

Và như thế công phu Thiền quán theo Trần Thái Tông là phải giác tỉnh sáu căn thường xuyên tiếp xúc sáu trần gây ra các nghiệp tội lỗi. Điều đáng nói thời đó, sau khi Đại tạng kinh từ Trung Hoa được thỉnh về đă khoa nghi sám hối như Lương Hoàng sám, Từ bi thuỷ sám văn đă có, nhưng Trần Thái Tông vẫn trước tác ra khoa nghi sám hối riêng biệt cho ḿnh và người dân Đại Việt như càng khẳng định ư thức tự chủ của dân tộc trên con đường thực nghiệm tâm linh.

Lại nữa, theo Trần Thái Tông để công phu thiền quán dễ tiến sâu vào định cần phải thực thi hành tŕ giới luật. Vai tṛ của giới luật vô cùng to lớn trong việc làm hoá hiện các điều thiện xuất phát từ một tâm thức thanh tịnh, nó cũng có công năng làm huỷ diệt các hạt giống bất thiện có nguy cơ nẩy mầm, nhờ giữ giới mà hành giả có thể an định tâm đến bờ giác ngộ. Trong bài “Thụ giới luận” (Luận về thụ giới), Trần Thái Tông viết:

“Kinh vân Giới như b́nh địa, vạn thiện ṭng sinh. Giới như lương y, năng liệu chúng bệnh. Giới như minh châu, năng phá hôn ám. Giới như thuyền phiệt, năng độ khổ hải. Giới như anh lạc, trang nghiêm pháp thân. Hữu tội giả đương sám hối. Nhược bất sám hối giả, kỳ tội ích thâm. Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục. Kim nhật tuy an, minh triêu nan bảo. Nghi tŕ thử pháp, tốc độ sinh tử; phụng Phật vi sư, tiên y giới luật. Cổ đức hữu ngôn: quá hà tu dụng phiệt, đáo ngạn bất tu thuyền. Thử cái cổ nhân dĩ giới vi thuyền phiệt, nhi kim bất dĩ thử vi độ chi, nhi đắc đáo ư bỉ ngạn giả, tiên hỹ”

(Kinh nói rằng: Giới như mặt đất bằng, mọi điều thiện từ đó sinh ra. Giới như thầy thuốc giỏi chữa được các bệnh. Giới như hạt minh châu, phá vỡ mọi tối tăm. Giới như thuyền bè, vượt qua bể khổ. Giới như chuỗi ngọc làm pháp thân trang nghiêm. Kẻ có tội cần sám hối. Nếu không sám hối, tội càng sâu thêm. Một lần bỏ mất thân ḿnh th́ muôn kiếp không thể t́m lại. Ngày nay tuy yên, mai sau khó giữ. Vậy nên giữ phép này, vượt mau qua đường sanh tử; thờ Phật làm thầy, trước hết tuân theo giới luật. Bậc cổ đức có nói: qua sông nên dùng mảng, đến bến hết cần thuyền. Như vậy người xưa coi giới là thuyền mảng. Ngày nay những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia là th́ thật hiếm vậy).

Trên bước đường tiến sâu vào định giải thoát tuệ giải thoát, công phu toạ thiền sẽ hỗ trợ sẽ làm cho định lực phát sinh, từ đó tuệ sinh khởi. Mỗi bước đi của việc tụng kinh tŕ giới toạ thiền là mỗi bước đi tiến sâu hướng vào miền đất an lạc, giải thoát. Hướng giải thoát của theo Trần Thái Tông chủ trương là hướng đi đích thực của truyền thống Giới - Định – Tuệ mà Thế Tôn và các bậc Thánh đă đi qua, và về sau Thiếu Thất (Đạt Ma), Tào Khê (Lục Tổ) chứng đạt.

Đúng như Trần Thái Tông viết trong “Khoá hư lục”:

“Phù học đạo chi nhân, duy cầu kiến tính. Tuy thụ kỳ nhất thiết tịnh giới nhi vô toạ thiền tắc định bất sinh”

“Phù tụê giả sinh ư định lực. Nhược tâm định tắc tuệ giám sinh”.

Nghĩa là người học đạo chỉ cốt thấy bản tính, tuy chịu tất cả mọi tịnh giới mà không ngồi thiền th́ định lực không sinh và người có trí tuệ được phát sinh từ định lực, nếu như tâm định th́ gương tuệ phát sinh. Cũng chính hướng đi này về sau Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông đă khai mở ḍng thiền Trúc Lâm Yên Tử phát triển, đi vào ḷng dân tộc.

Tại đây, chúng ta có thể nói nội dung tư tưởng triết lư của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đều dựa vào Khoá hư lục như là một nền tảng để các vị Tổ ḍng thiền này lấy đó làm kim chỉ nam sáng lập và truyền thừa. Nếu Trần Thái Tông là người manh nha kết cấu, đặt nền tảng th́ Trần Nhân Tông là người đầu tiên làm cho phái Thiền Trúc Lâm thăng hoa, sống măi với thời gian, không gian trên mảnh đất Việt Nam thân thương này.

Chúng ta có thể dựa vào các thư tịch c̣n lại để hiểu rơ nội dung tư tưởng triết lư ḍng thiền Trúc Lâm Yên Tử, qua đó cũng thấy được sự xuyên suốt ḍng mạch tư tưởng Thiền tông Trúc Lâm thật là nhất quán. Trần Thái Tông viết :

“Thiền tông chỉ nam”,

“Kim cương Tam muội”,

“Lục thời sám hối khoa nghi”,

“Khoá hư lục”,

“B́nh đẳng lễ sám văn”,

“Thái tông thi tập”;

Tuệ Trung Thượng sĩ th́ để lại :

“Thượng sĩ ngũ lục”;

Trần Nhân Tông trước tác :

“Thiền Lâm Thiết chuỷ ngữ lục”,

“Tăng già toái sự”

“Đại Hương Hải ấn thi tập”,

“Thạch thất mỵ ngữ”

và một số thơ, phú khác…;

Pháp Loa trước tác :

“Đoạn sách lục”,

“Tham thiền chỉ yếu”;

Huyền Quang với tác phẩm :

“Ngọc tiên tập”,

“Phổ tuệ ngữ lục”…

Đáng tiếc, do nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau, chúng ta chỉ c̣n lại một số văn bản như bài tựa “Thiền tông chỉ nam tự”, “Khoá hư lục”, “Thượng Trung Tuệ sĩ”, “Cư trần lạc đạo”, “Đắc thú lâm tuyền đạo ca” và một số bài thơ, kệ, phú các bài giảng của các Tổ sư Thiền phái này.

Thông qua việc khảo sát các văn bản nói trên, chúng ta có thể nhận định các vấn đề lư luận cũng như hành tŕ được đặt ra để lư giải và thực nghiệm tâm linh của Thiền phái Nhất tông này, về cơ bản đều đồng nhất với quan điểm tư tưởng Trần Thái Tông đưa ra trong “Khoá hư lục”. Chẳng hạn như bàn về cảnh giới giác ngộ, Tâm Phật và Chúng sanh không khác, phương thức hành thiền, thế giới khổ đau và con đường giải thoát khổ đau, xây dựng nếp sống hướng thượng, nhân sinh quan Phật giáo…Tất cả các tác phẩm kinh điển của các hành giả nói trên đều có chung chí hướng cùng một quan điểm lập trường.

Khi bàn về cảnh giới giác ngộ, trong bài “Niệm Phật luận”, Trần Thái Tông viết:

“Tâm thức thị Phật, bất giả tu thiêm. Niệm tức là thị trần bất dung nhất điểm, trần niệm bản tĩnh, cố viết như bất động, tức nhị Phật thân. Phật thân tức ngă thị thân thị, vô hữu nhị tướng. Tướng tướng vô nhị, tịch nhi thường tồn, tồn nhi bất tri, thị danh hoạt Phật”.

Cụ Nguyễn Đăng Thục dịch:

“Tâm tức là Phật, không muốn sự thêm vào. Ư niệm là bụi, không dung một điểm nào ở trong tâm ấy, ở đấy vốn trong sạch bụi nhơ, cho nên bao giờ cũng như thế không vang động gọi là Như như, tức là thể của Phật. Thực thể Phật thế nào th́ thực thể ngă như thế, không có hai h́nh tướng. H́nh tướng và h́nh tướng không có hai, yên lặng c̣n luôn mà không biết, thế là Phật sống”.

Rơ ràng, cảnh giới giác ngộ là cảnh giới của một tâm thức bừng sáng. Bách Trượng Tổ sư nói: “Đất ḷng nếu rỗng không, th́ mặt trời tự nhiên tự chiếu sáng, như vậy vén mặt trời hiện”. Tâm tức Phật chẳng có ǵ phải bàn phải tu thêm nữa! Một cái tâm thanh tịnh th́ xả ly hết mọi vọng niệm, đây cũng chính là cảnh giới Tứ thiền như Kinh tạng Pàli thường diễn đạt. Đây cũng là của Phật, cảnh giới của vô tướng, vô ngă siêu việt như như bất động của một tâm thức vắng lặng ngay giữa trần thế, đó chính là Phật sống.

Thế nên sự chuyển hoá tâm thức trong mỗi con người ai cũng có thể trực nhận và chứng đắc. Tâm Phật và tâm chúng sanh chẳng dị đồng. Chân lư thực tại chẳng ở đâu xa, không thể truy t́m từ bên ngoài mà ngay trong tâm thức của mỗi cá nhân hiện hữu. Trần Thái Tông từng thọ giáo ư chỉ của Quốc sư Phù Vân: “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm” th́ đệ nhất Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông th́ phát biểu trong bài “Cư trần lạc đạo phú”:

"Vậy mới hay
Bất ở trong nhà
Chẳng phải t́m xa
Nhân khuấy bổn nên ta t́m Bụt
Đến cốc hay chín Bụt là ta"

Trần Nhân Tông đă triển khai tư tưởng thiền học Trần Thái Tông thật là sinh động và và thật rơ ràng theo quan điểm của người Việt Nam khi tiếp nhận tư tưởng Phật học. Cuộc sống vốn biến động không ngừng, con người hiểu đạo tuỳ duyên theo đó mà sống để an vui. Khi tiếp xúc với trần cảnh ḷng vẫn tỉnh lặng, an trú trong chánh niệm tỉnh giác mà bừng sáng giác ngộ:

“Cư trần lạc đao thả tuỳ duyên
Cơ tắc san hề khốn tắc miền
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đố cảnh vô tâm mạc vấn thiền"

(Ở đời vui đạo hăy tuỳ duyên
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi t́m kiếm
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền)

Đây cũng là tư tưởng cơ bản xuyên suốt lịch sử Phật giáo Việt Nam, không chỉ phải đợi đến nhà Trần mới nói trong mỗi chúng sánh đều có Phật tánh, có mầm giác ngộ. Sư Khuông Việt đời Đinh và Tiền Lê cũng phát biểu:

"Mộc nguyên trung hữu hoả
Nguyên hoả phục hoàn sinh"

(Vốn trong cây có lửa
(Yếu tố lửa ấy tái sinh miền tục)

Như vậy lửa trong cây được ví như là chân lư, với mầm giác ngộ, là Phật tánh chân như. Cũng thế, trong nhà có vốn có sẵn ngọc quư cần ǵ phải t́m kiếm bên ngoài. Có điều Trần Thái Tông diễn đạt tư tưởng ấy thật với h́nh ảnh gần gũi thân thương với t́nh cảm con người mà thôi.

Con đường bước vào cảnh giới giác ngộ không ǵ khác hơn trở về tự tính chân như. Trong nhiều bài viết của ḿnh, Ngài đă thường nhắc đến vấn đề kiến tính.

Khái niệm "Tính" được ông diễn đạt bằng nhiều ngôn từ khác nhau như Bản tính, Pháp tính, Phật tính, Chân tâm, Chân như... Kiến tính là thấy rơ bản tŕnh chân thật của ḿnh, thấy rơ chân tâm, con đường đi đến giác ngộ giải thoát. Đây cũng là nguyên lư mà trong Thiền tông thường được diễn đạt bằng h́nh tượng quen thuộc: “Kiến tánh thành Phật”. Trong bài “Toạ thiền luận”, Ngài nói: “Phàm người học đạo, chỉ cần thấy tính”, trong bài Phổ thuyết bồ đề tâm văn ông lại nói: “Do thấy ánh sáng trí tuệ, phản chiếu lại ḿnh thấy được tính mà thành Phật”.

Thế nên, cuộc hành tŕnh chứng ngộ tâm linh mà Trần Thái Tông đi qua, suy cho cùng là sự phản tỉnh để hồi đầu, để trực ngộ thấy rơ tâm tính của ḿnh bằng cách chuyên chú hành tŕ theo Ngài là “biện tâm”. Trong kinh Pháp cú Phẩm Tâm cũng chỉ rơ biện tâm là uốn nắn cho tâm thẳng là điều phục tâm, pḥng hộ tâm, an trú tâm, khiến tâm trở nên nhu nhuyễn trong sáng thanh tịch, không cầu nhiễm bởi các ham muốn dục lạc, sự si mê và thù hận.

Cho nên, trong tác phẩm “Khoá hư lục”, Ngài đă thường xuyên cảnh tỉnh mọi người dù vương hầu bá tước hay thường dân đừng có hệ luỵ về danh sắc, âm thanh, đường nét, tiền tài,...Cuộc đời như giấc mộng phù du, cần xem nhẹ như tơ hồng. Trong bài “Phổ Khuyến Bồ đề tâm”, Ngài cũng khuyến cáo mọi người thật chân t́nh:

“Tường phù bách niên quang ảnh toàn tại sát na; tứ đại huyễn thân, khởi năng trường cửu. Mỗi nhật trần lao cốt cốt; chung triêu nghiệp thức mang mang. Bất tri nhất tính chi viên minh; đồ sính lục căn chi tham dục. Công danh cái thế, vô phi đại mộng nhất trường; phú quư kinh nhân, nan miễn vô thường nhị tự. Tranh nhân tranh ngă, đáo để thành không; khoa hội khoa năng, tất cánh phi thực”.

“Phong hoả tán thời vô lăo thiếu
Khê sơn ma tận kỷ anh hùng”.

“Lục man vị kỷ nhi bạch phát tảo xâm; hạ giả tài lâm nhi điếu giả tuỳ chi. Nhất bao nùng huyết trường niên khổ luyến ân t́nh; thất xích độc lâu tứ ư kiên tham tài bảo. Xuất tức nan kỳ nhập tức, kim triêu bất bảo lai triêu.”

“Ái hà xuất một kỷ thời hưu,
Hoả trạch ưu tiên hà nhật liễu”

(Rơ ràng thay, ngày tháng trăm năm chỉ là phút chốc. Cái ảo thân tứ đại hết được dài lâu. Càng ngày càng đắm trần lao, mỗi lúc mỗi vương nghiệp thức. Chẳng hiểu biết sự viên ḿnh của một tính, chỉ buông tuồng cái dục của sáu căn. Công danh rất mực chỉ là giấc mộng to, phú quư hơn người cũng tránh vô thường hai chữ. Cậy ḿnh cậy nó, rút cuộc thành không; khoe giỏi khoe tài, cuối cùng chẳng thực:

“Gió lửa tan tành kể chi già trẻ
Núi khe ṃn mỏi biết mấy anh hùng”

“Tóc xanh chửa bao lâu, tóc bạc đă sớm nhuốm vào; kẻ chúc mừng vừa đến người phân ưu liền theo. Một bao máu mủ, bao năm khổ luỵ ân t́nh; bảy thước xương khô mặc sức tham lận tài sản; thở ra khó hẹn thở vào, ngày mai chẳng giữ ngày sau:

Sông ái tuôn ngưng lúc nào cũng dứt,
Nhà lửa cháy nung bao giờ hết)

(Đỗ Văn Hỷ - Băng Thanh dịch trong thơ văn Lư Trần tập II)

Theo Trần Thái Tông sự cảnh tỉnh này cần phải được người tu hành thực thi trong tâm thức mỗi phút mỗi giây, ở nơi hoàn cảnh qua việc thực tập thiền định. Trong Toạ thiền luận, ông đă bàn về 4 loại thiền: Thiền ngoại đạo, Thiền phàm phu, Thiền tiểu thừa, Thiền đại thừa.

Tuy nhiên, Ngài khuyến cáo mọi người lên tu pháp thiền đại thừa mà thôi, v́ nó có khả năng thấu đạt cả hai lư nhân không và pháp không. Trần Thái Tông giải thích công năng ngồi thiền là dứt bỏ hết mọi mọi niệm và nói kiến giải: “Thử tập toạ thiền tức niệm, vật sanh kiến giải”. Điều này cho thấy c̣n sanh bất cứ kiến giải nào th́ đó chỉ là lư luận thôi. Thế nên, vấn đề là thể nhập thực tại qua việc hành tŕ. Tu định là một loại hành tŕ chuyển hoá thân tâm. Trong bài “Tuệ giáo giám luận”, Trần Thái Tông viết:

“Phù tuệ giả sinh ư định 1ực. Nhược tâm định tắc tuệ giám sinh. Nhược tâm loạn tắc tuệ giám diệt. Diệc như đồng kính, tiên giả ma lung, nhiên hậu phương hữu quanh tịnh minh chiếu. Nhược bất ma lung tắc đài ngàn hôn cấu. Kỳ dĩ hôn cấu, quang hà dĩ sinh? Cố tri tuệ do định hiện, định tự tuệ sinh, định tuệ tương y, lưỡng vô di nhất. Nhược giả danh toạ thiền, tâm vị đắc định, nhi tuệ giám sinh giả, vi chi hữu dă. Tuy hữu tuệ tính nhi bất toạ thiền, tự vị tuỷ hữu tuệ giả, hà giả tuệ vi?”.

Nhược như thị giả, tuy hữu tuệ giả, nhi vô giám thể. Nhược ư định thời, tâm vị đắc định, nhi dục cầu tuệ, thí nhược phong ba vị tĩnh nhi cầu kiến nguyệt ảnh giả dă. Nhược tâm kỳ định nhi phản sinh tà giả, cầu ư tuệ giả, nhược như phong ba kư tĩnh, nguyệt ảnh trừng thanh, nhi phục lăm ư thuỷ trưng cầu thủ nguyệt ảnh, hà đắc kiến tai!”

“Cố Tổ sư vân: “Tịch nhi thường chiếu, chiếu nhi thường tịch”.

(Nói chung tuệ sinh ra từ định lực. Nếu như tâm định th́ gương tuệ sinh; nếu tâm loạn th́ gương tuệ mất. Cũng như chiếc gương đồng, trước hết phải lau chùi sau mới trong trẻo chiếu sáng. Nhược bằng không lau chùi th́ rêu bụi mờ tối. Đă mờ tối ánh sáng sinh ra sao được? Cho nên biết rằng tuệ xuất hiện từ định; định nảy sinh từ tuệ. Định và tuệ nương tựa vào nhau, không bỏ sót một bên nào. Nếu giả danh ngồi thiền nhưng tâm chưa định, thế mà gương tuệ vẫn sinh, th́ điều nó chưa có bao giờ. Tuy có tuệ tính, nhưng không tập ngồi thiền lại tự bảo: “Ḿnh đă có trí tuệ c̣n mượn việc ngồi thiền làm ǵ?”. Những kẻ như thế, dù có trí tuệ đấy nhưng vẫn không có thể chất gương của tuệ. Lại như khi ngồi định mà tâm chưa định, nhưng vẫn muốn t́m tuệ th́ cũng ví như sóng gió chưa yên đă muốn t́m bóng trăng. Nếu tâm đă định, lại nảy sinh kiến giải không ngay thẳng, như thế mà muốn t́m tuệ th́ cũng như sóng gió đă lặng, bóng trăng trong trẻo, nhưng lại tḥ tay khoắng nước để vớt bóng trăng, vậy th́ làm sao lấy được!

"Cho nên Tổ sư nói rằng: “Yên lặng mà thường chiếu, thường chiếu mà yên lặng)

(Đỗ Văn Hỷ - Băng Thanh dịch - Thơ văn Lư Trần tập II)

Nhờ tinh thần này, dù ai có sống trong hoàng cung cảnh đời giàu sang cũng không đắm ch́m trong trong dục lạc, luôn làm tṛn bổn phận với dân và đồng thời thành tựu sự nghiệp giải thoát giác ngộ. Trần Thái Tông là ông vua cũng là nhà triết lư kiêm thiền sư, cuộc đời của Ngài là cuộc trải nghiệm kinh qua sự phú quư, công danh, tiền bạc, vợ đẹp con thơ, cung phi mỹ nữ và ông cũng trải qua nhiều năm tháng thực nghiệm cuộc hành tŕnh hướng nội, chuyển dẫn nội tâm tử sự tán loạn sang định tỉnh, từ chỗ đắm say các dục vọng ngoại cảnh chuyển sang trạng thái bất động sáng suốt, từ chỗ thô tháo, khó sử dụng đến chỗ nhu nhuyễn dễ sử dụng, hướng tâm đến đâu là tuỳ theo tâm nguyện của ḿnh. Tất cả là nhờ sự công phu thiền định, chuyển tâm, pḥng hộ tâm, biện tâm mà phát sanh trí tuệ chứng ngộ.

Suy cho cùng sự thai nghén của Trần Thái Tông ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và sự hoằng pháp của Ngài đă hun đúc ra một lớp người lănh đạo của đất nước kế tiếp là Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông và một số tướng lănh quan lại hướng dẫn mọi người dân thực hiện con đường chuyển hoá thân tâm bằng con đường hường nội, thực hành thiền định ngang qua nếp sống hường thiện đầy đủ của giới đức, tâm đức, tuệ đức.

Chính Thiền hướng nội và biện tâm Trần Thái Tông không chỉ thống nhất các ḍng Thiền vốn có thành “ḍng Thiền Nhất tông” mà c̣n tạo nên sức mạnh tổng hợp đoàn kết toàn dân trong đời sống thiết thực xă hội, cũng như đời sống chính trị kinh tế xă hội của đất nước. Các mâu thuẫn đối kháng của các mối quan hệ giữa vua tôi, tăng tục, quư tộc và nhân dân lao động được giải quyết một cách êm đẹp. Tất cả chỉ v́ niềm tin, v́ lư tưởng phụng đạo yêu nước, v́ ai cũng muốn thể hiện “ư muốn của ḿnh là ư muốn thiên hạ, tấm ḷng của ḿnh là tấm ḷng của thiên “hạ” mà Trần Thái Tông chủ trương thực thiện.

Cũng v́ tôn chỉ và mục đích thiết thực của Thiền phái Trúc Lâm là thống nhất và mang bản sắc dân tộc như thế, nên càng ngày nó càng cắm sâu trong ḷng dân chúng. Nó không chỉ tồn tại trong các ngôi chùa nguy nga mỹ lệ mà nó có thể hoạt động bất cứ nơi nào dù thành thị, nông thôn, chợ búa hay núi non hiểm trở, thậm chí nó c̣n phát huy ngay giữa chiến trường để đối đầu với giặc Nguyên Mông. Trần Thái Tông chủ trương Phật tại tâm, và không phân biệt tăng lục, nam nữ, và bất cứ thành phần nào trong xă hội đều có thể trở thành thành viên thiến phái, với một tấm ḷng “chỉ cốt yếu biện tâm”.

Nhờ vậy, những vị vua như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, chưa từng xuất gia đă trở thành thiền sư lỗi lạc, những cư sĩ như Tuệ Trung Thượng sĩ, Thông Thiên, Ứng Thuận… các Ngài cũng trở thành những bậc cao minh đắc đạo được các Thiền sư nổi tiếng đương thời tôn vinh làm Tổ sư dạy thiền cho hậu thế. Thực tế, Tuệ Trung Thượng sĩ là thầy dạy thiền cho vua Trần Nhân Tông, và chính Ngài trở thành Trúc Lâm đệ nhất Tổ -vị giáo chủ khai sáng ra ḍng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trần Nhân Tông hiện thân của một vị Phật ở Đại Việt với nhiều nét riêng biệt phong cách riêng so với các ḍng thiền trước đó. Hẳn nhiên, Thiền phái này sinh hoạt độc lập tự chủ không có sự chi phối hay phụ thuộc bất cứ Thiền phái Trung Hoa nào.

Nếu Trần Nhân Tông được nhân dân Đại Việt tôn xưng là Phật Biến Chiếu Tôn của nước Đại Việt bấy giờ, th́ vua Trần Thái Tông là người xứng đáng là được tôn vinh là “Bó đuốc Thiền tông”, đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nảy mầm, và phát triển truyền thừa trong lịch sử Phật giáo nước nhà. Sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp của ông măi măi được khắc sâu vào tận con tim khối óc cơi ḷng người con Phật Việt Nam đă và đang sống trên khắp hành tinh này.

Thích Phước Đạt