TÀI LIỆU Y HỌC

 

Bs. Trần Đại Sỹ

BỆNH BAO TỬ

 
 
  1. Bệnh Bao Tử
  2. Bệnh Đái Dầm
  3. Bệnh Phong Thấp
  4. Bệnh Tiểu Đường
  5. Hổ Cốt Mộc Qua Tửu
  6. Phục Dương Đại Bổ Tửu
  7. Thần Kinh Suy Nhược
  8. Thập Thức Bảo Kiện Pháp
  9. Trà Hảo Liên(Hao Ling)
 

 

Bản để in

NHỮNG VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN
Của Chứng Bệnh Bao Tử

Bác-sĩ TRẦN ĐẠI-SỸ
Tŕnh bày trong đại hội Y-khoa châu Âu ngày 18 và 19-10-2003,
Tại Chaville , FRANCE

Tác giả và ARMA giữ bản quyền,
Tout droits réservés.
All rights reserved

Kính thưa chư vị chủ tọa đoàn,
Thưa các đồng nghiệp.

1. DẪN NHẬP

Hôm nay chúng ta gặp nhau tại đây để nghiên cứu vấn đề của một tai họa sức khỏe rất thường gặp, nhưng đối với Y-học của chúng ta (Âu, Mỹ, Úc) dường như chưa đặt thành hệ thống. Dĩ nhiên chưa có tên gọi, chưa có phương thức điều trị hữu hiệu. Khi một bệnh nhân bị chứng này, các thầy thuốc thường bỡ ngỡ, dĩ nhiên không thể trị dứt.

Đề tài đó mang tên:

Bao tử (dạ dầy) lạnh,
(Tỳ vị hàn chứng)

Thế nhưng Y-học Hoa-Việt đă t́m ra, đă biết (lư, pháp, phương) tức biết về bệnh lư tức nguyên do mắc bệnh, biết nguyên tắc, biết các phương thuốc chữa trị hữu nghiệm từ hồi thế kỷ thứ mười một, mười hai.

2. NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân chính đưa đến tỳ-vị hàn lănh có rất nhiều :

  • Hoặc do thể tố dương hư dẫn tới,
  • Hoặc do ngoại hàn,
  • Do Tỳ, Vị kinh bị hàn nhập,
  • Hoặc do tỳ-thận dương lưỡng hư.

2.1. Thể tố dương hư,

Biểu h́nh loại người dương hư

Khi cơ thể bị bệnh có thể đưa đến Dương-hư.

(Dương bị khoét một miếng)

  • Chứng trạng dương hư 

  • Sắc mặt ám tối thuộc âm, trắng bệch.
  • Âm thanh nhỏ đứt đoạn.
  • Mạch thấy trầm, tŕ, tiêu, sáp, hư.
  • Bàn chân, bàn tay lạnh.
  • Môi lợt.
  • Tính trầm tĩnh.
  • Sợ lạnh.
  • Tim đập dưới 75 lần một phút.
  • Nước tiểu trắng.
  • Đại tiện lỏng.
  • Tóc rụng.
  • Răng lung lay.
  • Huyết áp thấp.
  • Người mề mệt.
  • Nam khó khăn về Sex, nữ rắc rối về kinh nguyệt v.v.

Từ thể tố dương hư, mà nguyên nhân có thể do:

Tâm dương hư,

Sẽ thêm chứng trạng:

  • Tim đập chậm,
  • Hơi thở gấp,
  • Khi hoạt động mau mệt,
  • Mồ hôi chân tay thoát ra nhiều,
  • Lưỡi lợt,
  • Sắc mặt kém tươi v.v.

Tỳ dương hư,

Sẽ thêm chứng trạng:

  • Thấp ứ đọng trên cơ thể hoặc ngoại thấp, hoặc nội thấp hoặc cả hai.
  • Các mạch máu bị kết thành tĩnh động mạch nghẽn,
  • Ăn vào đầy ứ,
  • Không thiết ăn uống,
  • Dễ thọ lĩnh cảm mạo,
  • Cơ bắp mềm xèo, dễ xuất huyết,

Thận dương hư,

  • Sẽ thêm các chứng trạng:
  • Xương yếu, răng lung lay,
  • Trí nhớ giảm thoái,
  • Gặp khó khăn pḥng the, hiếm muộn,
  • Nữ kinh nguyệt bất thường,
  • Nam bần tinh, tinh nhược, tuyệt tinh v.v.

Phế dương hư,

  • Sẽ thêm các chứng trạng
  • Hơi thở ngắn,
  • Gặp lạnh th́ ho,
  • Dễ bị cảm mạo,
  • Đờm trắng,
  • Da-tóc có bệnh v.v.

2.2. Do ngoại hàn

Biểu h́nh loại người thực hàn

Do ẩm thực, hoặc do ngoại tà xâm nhập, đưa đến thực hàn

  • Chứng trạng thực hàn 

  • Mặt trắng bệch, ảm đạm,
  • Người lạnh, bàn chân bàn tay lạnh,
  • Thích gần chỗ nóng,
  • Tính trầm tĩnh, ít nói,
  • Tiếng nói không có lực,
  • Mạch Hoạt, Tŕ,
  • Tim đập dưới 75 lần một phút,
  • Lưỡi trắng bệch, dầy, bợn lưỡi dầy,
  • Đại tiện lỏng,
  • Tiểu tiện trong dài,
  • Thần trí mề mệt,
  • Không tập trung được tinh thần,
  • Tai kêu bập bùng,
  • Huyết áp thấp,
  • Nam th́ dương vật không cử, cử nhưng không kiên ,
  • Nữ huyết trắng. Kinh nguyệt không đều.

2.3. Do Tỳ, Vị kinh bị hàn nhập,

2.3.2. Túc Thái-âm tỳ kinh

Chạy từ chân lên bụng, chia làm hai, một nhánh lạc vào vị, rồi sang tỳ, thống thuộc tỳ. Một nhánh chạy qua bụng, tận cùng ở ngực.

2.3.3. Túc Dương-minh vị kinh

Chạy từ sống mũi, ṿng qua cổ, tới xương sống, rồi dọc cổ, chia làm hai. Một phân chi xuyên ngực , lạc vào tỳ, một nhánh chạy tới thống thuộc vị, rồi chạy xuống đùi. Một nhánh chạy phía ngoài qua vú, ngực, bụng, tới đùi gặp nhánh thứ nhất, qua gối, xuống bàn chân, ngón chân.

2.3.4. Hàn thấp nhập cơ thể

Thông thường, hàn-thấp nhập cơ thể thường do :

  •  Hoặc ngoại thấp, rồi thành nội ngoại thấp,
  •  Hoặc do ngoại thấp, rồi thành nội ngoại thấp.

Biểu h́nh hàn-thấp đ́nh lưu

Biểu h́nh trên

  • Khởi đầu cơ thể âm, dương b́nh ḥa.

Bên trái:

  • Tỳ-vị dương hư,

  • Không đủ sức kiên vận, nội thấp đ́nh lưu,

  • Nội thấp đ́nh lưu, làm trở ngại ngoại biểu, ngoại thấp nhập cơ thể,

  • Cuối cùng cơ thể bị cả nội lẫn ngoại thấp.

Bên phải:

  • Cư trú trong vùng ẩm thấp, cơ thể không đủ lực chống trả, ngoại thấp đ́nh lưu,

  • Ngoại thấp làm tỳ dương bị ngăn trở, tỳ dương trở thành hư,

  • Tỳ dương hư không đủ kiên vận, nội thấp đ́nh lưu,

  • Cuối cùng cơ thể bị cả nội thấp lẫn ngoại thấp.

3. DƯỢC TRỊ

3.1. Trị tỳ vị khí hư

3.1.1. Chứng trạng

  • Ăn ít, không thiết ăn,

  • Sau khi ăn vùng bụng trên căng trướng,

  • Đại tiện lỏng, mầu nhợt,

  • Hơi thở ngắn,

  • Chân tay vô lực,

  • Người gầy g̣,

  • Sắc mặt vàng úa, kém nhuận,

  • Chất lưỡi lợt, bợn lưỡi trắng,

  • Mạch tế nhược (1)

3.1.2. Dược trị

  • Dùng Tứ quân tử thang:  Mỗi ngày uống một thang vào lúc đói. Uống liền mười thang.

  • Xuất xứ: Trong sách Ḥa tế cục phương.

  • Thành phần:

Nhân-sâm  

12g

Cam thảo  

12g

Phục linh,  

12g

Bạch truật  

12g

  • Dụng pháp: Mỗi ngày uống một thang. Uống liền 10 ngày. Nghỉ 10 ngày, rồi uống tiếp 10 ngày.

  • Công dụng: Cam ôn bổ khí. Kiên tỳ dưỡng vị.

  • Chủ trị

– Tỳ vị khí hư,
– Vận hóa lực nhược,
– Ăn ít , tiện lỏng,
– Sắc diện bạc nhược,
– Tiếng nói không lực,
– Chân tay không lực,
– Mạch tế khinh hoặc trầm hoăn.

  • Phân tích dược lư

Phương thuốc này trị tỳ-vị hư nhược, trung khí bất túc. Trong phương thuốc này th́:

– Nhân-sâm tính ngọt, ấm có khả năng phù trợ tỳ, nuôi dưỡng vị, nghĩa là bổ trung tiêu, ích khí.
– Bạch-thuật tính vị đắng ấm, làm kiên tỳ khô thấp. Phù trợ cho việc vận hóa.
– Phục-linh tính ngọt, hợp với Bạch-thuật kiên tỳ khô thấp.
– Cam thảo để ḥa các dược vật trên.
– Tổng hợp lại để kiên tỳ, dưỡng vị, dùng trị tỳ-vị hư nhược.

Cả bốn vị đều không có tính cách làm hại cơ thể v́ vậy được mang tên bốn ông quân tử!

3.1.3. Dùng Lục vị quân tử thang

Nếu dùng Tứ quân tử thang không kết quả. Hoặc bệnh nặng, bệnh kinh niên th́ dùng Lục vị quân tử thang

Lấy căn bản là Tứ quân tử thang thêm Bán-hạ, Trần-b́, phân lượng bằng nhau, dùng trị tỳ-vị hư hàn nặng, đưa đến: Không thiết ăn uống, đầy ứ vùng bao tử, lồng ngực, hoặc bụng trướng, nôn mửa. Có thể thêm Can khương, khi người quá lạnh.

3.2. Tỳ dương hư

3.2.1. Chứng trạng

  • Ăn ít, bụng chướng,

  • Vùng bao tử ngâm ngẩm đau, thích án tay vào,

  • Miệng nhạt, không khát,

  • Chân tay lạnh,

  • Đại tiện lỏng bạc,

  • Hoặc chân tay, người phù thủng, tiểu tiện bất lợi,

  • Nữ bị huyết trắng, nam th́ bất lực,

  • Lưỡi dầy, chất lợt, bợn trơn, mạch trầm tế hoặc tŕ nhược.(3)

Người bị chứng này trông như béo, mà thực ra là bị bệnh. Hiện chưa có loại thuốc Tây-phương nào hữu hiệu với loại bệnh này, ngoài trị bằng châm cứu, uống thuốc Bắc. Các bà bị bệnh tưởng ḿnh béo, nên nhịn ăn, càng nhịn ăn càng phù, càng béo thêm ra; các ông th́ con chim cứ rút vào trong tổ, đi uống nhân sâm, cùng những thuốc kích dâm, cũng vô ích. Phải trị tỳ dương trước. Khi chân tay lạnh lâu ngày, đưa đến tĩnh động mạch nghẽn (varices), rồi từ đó đưa đến bệnh lo sợ, mất ngủ (dépression).

3.2.2. Dược trị

Dùng Lư trung thang hoặc Thực Tỳ tán,

3.2.2.A. Lư trung thang (Nhân sâm thang)

  • Xuất xứ: Trong sách Thương-hàn luận của Trương Trọng-Cảnh.

  • Thành phần :

Nhân sâm  

 10 g.

Can khương  

 5 g.

Cam thảo nướng  

 3,5 g.

Bạch truật  

 7g

  • Dụng pháp: Mỗi ngày uống một thang. Uống liền mười ngày.

  • Công dụng:

    - Ôn trung tiêu (tỳ vị), khử hàn,
    - Bổ khí, kiên tỳ.

  • Chủ trị

– Trung tiêu hư hàn, bụng đau, mửa, đưa đến Dbc-Cbk
– Dương hư, cơ thể dễ bị bầm tím ,
– Sau khi bệnh ngủ ly b́, đưa đến Dbc-Cbk

  • Phân tích dược lư

Can khương để làm nóng trung tiêu, khứ hàn. Bạch truật kiên tỳ vị, khô thấp. Nhân sâm bổ khí, ích tỳ. Cam thảo ḥa dược vật. Hợp lại để trị tỳ vị hư nhược.

3.2.2.B. Thực tỳ tán

  • Xuất xứ : Trong sách Tế sinh phương.

  • Thành phần

Hậu phác  

1 lượng,

Bạch thuật  

1 lượng,

Mộc qua  

1 lượng,

Mộc hương  

1 lượng,

Thảo quả nhân  

1 lượng,

Phụ tử  

1 lượng,

Bạch phúc tử,  

1 lượng.

Bạch phục linh  

1 lượng.

Can khương  

1 lượng,

Cam thảo  

 0,5 lượng.

  • Dụng pháp

Tán thành bột, mỗi lần uống 12-15g, ngày hai lần, uống lúc nào cũng được. Khi uống dùng thuốc dẫn chế như sau :

- Gừng tươi (sinh khương) 1-2g,

- Đại táo (Táo tầu) 1 quả,

-Đun sôi với 1/4 lít nước trong 15 phút. Uống nóng. Gần đây dùng với h́nh thức thang thuốc, sắc lên uống.

  • Chủ trị

Âm thủy (phù thủng) nửa người dưới căng phù nặng, lồng ngực, bụng căng trướng, thân thể nặng nề, chân tay lạnh, miệng không khát, nhị tiện không thông.

  • Công dụng

Ôn dương, kiên tỳ, hành khí lợi thủy (làm nóng dương, làm cho tỳ yếu hóa mạnh, làm cho khí lưu thông và chuyển nước ra ngoài cơ thể.)

  • Phân tích dược lư:

Áp dụng lư thuyết ngũ hành :

Bạch-thuật, Can-khương, Cam-thảo, Đại-táo để bổ tỳ. Tỳ thuộc thổ, thổ mạnh th́ khắc chế thủy.

Can-khương, Phụ-tử, Thảo quả để làm nóng trung tiêu, trừ hàn để giúp dương trừ âm thủy.

Bạch-phúc tử, Phục-linh, Hậu-phác, Mộc-hương, Mộc-qua để hành khí, để khí cơ thể hóa thấp được, dùng để ôn dương, kiên tỳ hành khí.

Bản dược lấy ôn dương, kiên tỳ làm chủ, tỳ mạnh th́ thủy trị, làm tỳ mạnh gọi là Thực tỳ cho nên có tên Thực tỳ tán .

Thủy thủng thường do 2 loại âm-thủy và dương-thủy. Dương-thủy thuộc biểu, thuộc nhiệt, thuộc hàn, có thể dùng phương pháp phát-hăn, lợi thủy. Âm-thủy thuộc lư, thuộc hàn, thuộc hư, đa số cần phải làm nóng, cần phải bổ. Thực-tỳ-tán là loại ôn dương, kiên tỳ, chủ yếu trị bệnh âm thủy. Cho nên khi trị bệnh thủy thủng, âm thịnh, th́ trong đó phải dùng Ôn dương, hành khí thực mạnh, tức hành khí hay phù chính mạnh. Nghĩa là hư chứng th́ bổ mạnh, tả nhẹ.

Tổng kết

Phù thủng có rất nhiều loại, nhưng thường chia làm âm-thủy, dương-thủy. Dương-thủy không thể dùng bản dược, bởi nó thuộc biểu chứng, tà khí mạnh, dùng th́ bổ hư mạnh quá, sẽ đưa đến bổ ngoại tà.

C̣n gốc do Âm-thủy tức thuộc lư, thuộc hư, thuộc hàn, th́ dùng được. Thận dương hư, tỳ dương hư, can dương hư thường ảnh hưởng lẫn nhau... Bổ dương th́ cần lấy bổ hậu thiên làm chủ. Tỳ là gốc của hậu thiên, chủ vận hóa nước. Khi bổ tỳ thực mạnh, tỳ dương vận hóa nước mạnh, làm cho ăn uống khỏe, các dương khí thuộc Tâm, Thận, Can v.v... tự sinh. Cho nên thang thuốc trên lấy bổ làm chính, tả làm phụ là thế.

Chữa phù thủng cho phụ nữ rất khó khăn. Bởi khi mới bị, bệnh nhân thường cho rằng bị mập, nên kiêng ăn. Kiêng cữ th́ tỳ dương hư, gốc hậu thiên hư đưa đến các cơ phận khác hư, người càng đầy ứ nước. Bệnh nhân càng cố công nhịn ăn, nước càng ứ đọng trong người... cứ thế họ nhịn ăn, người phù lên, mà không biết. Khi đến y sĩ, giảng giải cho họ thực kỹ, rồi cho uống thuốc để bổ dương, hành thủy. Phản ứng mấy ngày đầu đưa đến họ rất đói, nhưng không chịu ăn uống. V́ vậy bản dược không hiệu nghiệm. Khi thấy không hiệu nghiệm họ bỏ không trị. Thường th́ bệnh nhân chịu nghe y sĩ, khi uống thuốc sẽ thấy ăn nhiều, tiểu rất nhiều, người xẹp đi, hồng hào khỏe mạnh, trọng lượng rút xuống mau lẹ...

Sau nhiều năm kinh nghiệm điều trị tại châu Âu, chúng tôi đă thu thái được rất nhiều kinh nghiệm. Nhất là đối với phụ nữ.

Chữa phù thủng cho phụ nữ, thường phải có sự tin tưởng, thuyết phục, để bệnh nhân nghe y sĩ. Muốn thế, cần học phương pháp làm gầy bằng Electrolyse, lấy đó thuyết phục bệnh nhân : Cứ ăn cho thật khỏe, nếu mập lên sẽ làm gầy trả. Sự thực không bao giờ có hiện tượng trị Âm-thủy mà mập lên cả... (Chữa mập cho đến đại hội quốc tế tháng 6-1980 tại La-mă đều nói rằng : Không có phương pháp nào để trị mập mà không phải nhịn ăn, không có cách nào trị mập Cellulite cả, nhưng thực ra chúng ta thí nghiệm từ năm 1976 đă thành công, mới công bố sau này...).

3.3. Trị tỳ thận dương hư, đưa đến phù thủng

3.3.1. Chứng trạng

 Có chứng trạng như tỳ dương hư, thêm :

– Thủy thấp nội đ́nh,

– Tiểu tiện bất lợi,

– Tứ chi nặng nề, đau đớn,

– Ác hàn bụng chướng và đau.

– Thận dương hư, chân tay lạnh, người lạnh,

– Dương không cử (Cúi đầu e thẹn),

– Phụ nữ tử cung lạnh không thụ thai, thống kinh.

– Tiêu chảy, thủy thấp đ́nh, sinh ra bụng nước, tứ chi nặng nề, nhất là sinh ra phong thấp... và các chứng bất lực.

3.3.2. Dược trị

Dùng Trấn vơ thang

  • Xuất xứ: Trong sách Thương hàn luận, c̣n gọi là Huyền vơ thang.

  • Thành phần:

Phục-linh  

 3 lượng.

Thược dược  

 3 lượng.

Sinh khương  

 3 lượng.

Bạch truật  

 2 lượng.

Phụ-tử  

 1.5 lượng. (Có thể 3 lượng nếu bệnh nặng)

  • Dụng pháp

Sắc với khoảng 4 lít nước, sau khi sôi để lửa thật nhỏ, cho đến khi c̣n 1 lít th́ gạn lấy nước. Chia làm 4 lần, mỗi lần lấy ¼ lít. Đun ấm lên uống.

  • Công dụng

- Ôn thận tán hàn (Làm nóng thận, làm tan hàn).

- Kiên tỳ lợi thủy (Làm tỳ mạnh lên, đưa nước ra ngoài)

  • Chủ trị

Trị tỳ dương hư, thủy thấp nội đ́nh, đưa đến tiểu tiện bất lợi, tứ chi nặng nề, đau đớn, ác hàn bụng chướng và đau. Về phương diện thận dương hư, bản dược trị chân tay lạnh, người lạnh, dương không cử (Cúi đầu e thẹn) phụ nữ tử cung lạnh không thụ thai, thống kinh.

Tóm lại bản dược trị thận dương hư, đưa đến tiêu chảy, thủy thấp đ́nh, sinh ra bụng nước, tứ chi nặng nề, nhất là sinh ra phong thấp... và các chứng bất lực.

  • Phân tích dược lư

– Phụ-tử đại bổ dương khí, để trừ hàn, bổ tỳ-vị-dương, làm dược vị chính. Tùy theo bệnh nặng nhẹ mà cho nhiều hay ít.

– Bạch-truật để làm khô thấp, mục đích trừ thấp trong cơ thể.

– Phục-linh để bổ tỳ vị, hợp với Bạch-truật vừa khô thấp cho tỳ dương chuyển động được vừa bổ tỳ, làm cho tỳ dương mạnh.

– Sinh khương vừa làm nóng trung tiêu vứa có tính chất giải biểu.

– Thược dược bổ khí hành khí.

Hợp lại là một dược thang để trị tỳ-thận dương hư, nhưng tỳ-vị dương hư nhiều hơn, làm cho nước đọng lại trong người sinh thủy thủng.

Tổng kết

– Bản dược vừa để trị tỳ thận dương hư đưa đến thủy thấp đ́nh lưu hoặc nặng hơn đưa đến thủy thủng, vừa để trị các chứng bất lực do cả tỳ thận dương hư đưa đến.

– Thận dương hư : Dương vật không cử, cử mà không kiên hoặc lâu ngày dương vật mới cử, cử khó khăn.

– Tỳ vị dương hư ăn vào đầy ứ, tiêu chảy.

– Cả hai tỳ dương và thận dương, cứ một hư đưa đến cả hai hư, bệnh trở thành nặng. Vậy đây là thang trị chứng bất lực nặng, do ăn ít (tỳ vị hư) thận hư mà thành.

– Thông thường bệnh nhân t́m đến chúng ta xin trị bệnh về Tỳ-Vị-Trường. Nếu chúng ta hỏi kỹ, họ mới chịu khai ra cái vụ khó khăn sex.

3.4. Tỳ khí hạ hăm

3.4.1. Chứng trạng

– Chóng mặt.

– Tiếng nói đục, thấp.

– Hơi thở ngắn, thiếu lực.

– Tự nhiên xuất mồ hôi, ăn ít.

– Sau khi ăn bụng trướng.

– Vùng bụng, bao tử cămg cứng.

– Trĩ ḷi trê, hoặc phụ nữ tử cung bị sa xuống hoặc lật ngược. (5)

Những người này thịt thường mềm xèo, quư ông th́ dĩ nhiên trở thành thái giám, đi đứng cũng thở ph́ pḥ chứ đừng nói là lâm chiến. Thảng hoặc lâm chiến vừa thụt vào, lui ra đă xổ mũi, tiếng văn hoa có tên lệ chảy chứa chan ngoài quan ải, hay chưa lên chùa đă đọc kinh. Tôi th́ tôi đặt tên là bệnh gà, bởi giống hệt con gà đực, vừa lên lưng con cái đă phải xuống.

3.4.2. Dược trị

Dùng Bổ trung ích khí thang.

  • Xuất xứ: Trong sách Tỳ-vị luận.

  • Thành phần

Hoàng-thị  

 3g

Cam-thảo nướng  

 1,5g

Nhân-sâm  

 1,5g

Đương-quy  

 5g

Quất-b́  

 1,5g

Thăng-ma  

 1,5g

Sài-hồ  

 1,5g

Bạch-truật  

 1,5g

Hiện trên thị trường Hoa-kỳ, Canada, Úc, có bán Bổ-trung ích khí hoàn. (6) Thành phần thay đổi đôi chút, v́ cần bảo quản giữ độ ẩm.

  • Dụng-pháp

Mỗi ngày uống một thang. Uống liền 10-15 thang.

  • Công-dụng

Rất rộng: Điều ḥa, bổ tỳ vị. Thăng dương ích khí.

  • Chủ trị

– Khí hư phát nhiệt,

– Thân nhiệt phát mồ hôi,

– Khát, thích uống nóng,

– Nhức đầu, ác hàn.

– Người vô lực.

– Khí hư hạ hăm: Trĩ, tử cung sa, kiết lỵ,

  • Phân tích dược lư

Trong 8 vị, đều thuộc dương tính, bổ dương, kích thích công năng tỳ vị. Đây là phương thuốc cổ, nhưng hiện rất đa dụng:

– Trẻ con ăn ít, gầy c̣m,

– Sau khi giải phẫu, làm vết thương mau lành.

– Trong thời kỳ dưỡng bệnh.

– Dùng bồi dưỡng khi trị ung thư bằng hóa trị.

– Ăn ít.

– Tử cung bị sa, bao tử bị sa.

– Trĩ.

– Tất cả các bệnh nội xuất huyết.

– Không có cấm kị.

4. CHÂM CỨU TRỊ

Châm cứu tuy đa diện, nhưng tựu chung chỉ có:

– Nhĩ châm,

– Châm thân,

– Cứu trị,

Là những phương pháp hiệu nghiệm nhất đối với các chưng bệnh Tỳ-vị do Hàn-thấp gây ra. Trị bệnh Tỳ-Vị-Trường bằng phương pháp châm cứu của ARMA, cho kết quả rất cao.

Thưa Quư-vị,

Đến đây kư văng nhắc nhở cho tôi những kỷ niệm buồn vào 28 năm trước. Bấy giờ tôi rời Thượng-hải về Pháp dạy học, khi các đồng nghiệp hỏi tôi rằng Châm-cứu có trị được các chứng bệnh Tỳ-vị (vừa tŕnh bầy trên) không? Tôi đáp thực thà: Không khó. Trong một lớp học (Séminaire) dành cho 31 Bác-sĩ trẻ tôi dạy đề tài này. Sau đó các đồng nghiệp trẻ ấy trở về trị cho thân chủ, chỉ ba tháng sau tuy mức thành công khiêm tốn (75% các ca) đều có kết quả tốt. Tin này gây trấn động giới Bác-sĩ tổng hợp Đông-Tây-y tại châu Âu.

Lập tức một đồng nghiệp cao niên, gốc người Việt-Nam như tôi, tạm gọi là ông XYZ họp đệ tử lên tiếng chỉ trích tôi rằng nói láo, rằng những kết quả đó là tưởng tượng, rằng phương pháp của tôi (sự thực là của Đại-học Y-khoa Thượng-hải và Giang-tô, Trung-quốc) không thể thực hiện được. Rồi ông dùng tập san của ông công kích phương pháp của tôi, nhưng ông không dám nêu đích danh tôi, v́ ông biết tôi là kư giả, là nhà văn cũng có đôi chút khả năng phản đ̣n bằng viết lách. Trực diện đối đầu với tôi, trong khi ông chưa có khả năng sâu xa của khoa Châm-cứu th́ không khác ǵ tự tử.

Nguyên do: Tŕnh độ Châm-cứu tại châu Âu bấy giờ c̣n đi những bước chập chững, tôi gọi đùa là kim-trị-liệu (Aiguithérapies), bởi người ta chỉ biết t́m huyệt, rồi cắm kim, mà không biết kích thích kim điều khí; dĩ nhiên không biết châm-bổ, châm-tả. Điều mà những người công kích tôi là độ sâu của kim. Như huyệt Tam-uyển (Hạ-uyển, Trung-uyển, Thượng-uyển VC 10-12-13), Lương-môn (E21) tôi đưa ra châm pháp như sau:

– Trực châm, 1,5 đến 3 thốn. Sau khi kim tới độ sâu đă định, vừa quay b́nh bổ, b́nh tả thực nhanh, vừa rút kim ra.

– Khi kim tới da, th́ chuyển sang khoa châm hướng hạ, th́ đẩy kim sâu cũng từ 1,5 đến 3 thốn.

Tôi bị công kích là: Không biết ǵ về kinh mạch. Kinh nhỏ như sợi chỉ nằm trên da, châm sao nhập da là đủ rồi. Tại sao phải châm sâu? Tại sao lại phải kích thích kim. Khi đọc những gịng chữ này, tôi mới bật ngửa, tỉnh ngộ rằng người công kích ḿnh quá dốt nát, không có lấy một chút kiến thức về kinh mạch. Tôi thương hại, không trả lời, để cho kẻ công kích sống trong cái ngu tối.

Tại sao?

Tôi học Thiền, Khí-công trước khi học vơ. Tôi học chữ sau học Khí-công-vơ. V́ vậy tôi biết rơ kinh khí vận hành, chuyển động ra sao. Như trong bài giảng nhập môn về Kinh-mạch, Quư-vị đều biết rằng, mỗi Kinh có một phạm vi trên cơ thể. Tỷ như trên tay, ta có sáu kinh: Phế, Tâm, Tâm-bào, Tiểu-trường, Đại-trường, Tam-tiêu. Nếu cắt ngang một cánh tay, chúng ta ta sẽ thấy tay chia làm sáu khu vực. Nếu chỉ châm sâu dưới da, th́ chỉ phần ngoài kinh, bệnh mới phát là có tác dụng. V́ vậy phải châm sâu th́ mới chữa được bệnh nội tạng.

Mười lăm năm sau, anh em học tôi hành nghề khá đông tại Âu-châu (VN 145 người, Espagne 657 người, châu Âu 375 người, Pháp 318 người) họ đều thành công hơn học tṛ của ông XYZ xa, xa lắm lắm. Bấy giờ ông mới viết một bài ngắn cũng trên tập san của ông rằng cần nghiên cứu châm sâu. Trên các cours, sách của ông; ông sửa độ châm sâu giống hệt các cours của ARMA! Ông chép nguyên văn của tôi. Nghĩa là ông đi sau ARMA 15 năm.

Nào bây giờ chúng ta trở lại với việc dùng Châm-cứu trị chư chứng trên.

4.1. Nhĩ châm

4.1.1. Dùng huyệt

V́ cần châm nhiều huyệt, nên chia làm ba nhóm. Một nhóm tổng trị châm cả hai bên. Hai nhóm c̣n lại, mỗi bên châm một nhóm.

Nhóm tổng trị: Tỳ, Vị, Nội phân tiết.

Nhóm thứ nhất: Thần-môn, Đại-trường.

Nhóm thứ nh́: Giao-cảm, Can.

4.1.2. Châm pháp

Tất cả đều hoành châm,

Cứ 5 phút kích thích kim một lần.

4.1.3. Lưu kim

30 đến 45 phút.

4.2. Châm thân

4.2.1. Dùng huyệt

Chia làm hai nhóm huyệt:

– Nhóm tổng trị, dùng trong mọi trường hợp,

– Nhóm chuyên khoa, dùng trong từng trường hợp.

4.2.1A. Huyệt tổng trị

Huyệt tổng trị chia làm hai nhóm. Luân phiên, mỗi lần dùng một nhóm.

Nhóm một:

– Tam uyển: Hạ uyển (VC 10), Trung-uyển (VC12), Thượng-uyển (VC13),

– Lương môn trái (E21),

– Công tôn (RP4), Nội quan (MC6)

– Túc tam lư (E36)

Nhóm hai:

– Tỳ-du (V20), Vị-du (V21), Cách-du (V17)

– Can-du (V18), Đại-trường du (V25).

4.2.1B. Huyệt chuyên khoa

Nhóm một:

– Thiên-xu (E25), Đại-hoành, (RP15)

– Trung-cực (VC3), Thủy-đạo (E28),

Nhóm hai:

– Tam âm giao (RP6), Thái-khê (R3)

– Túc bát phong.

4.2.2. Châm pháp

– Các huyệt Tam-uyển, Lương-môn, Thiên-xu, Đại-hoành, Trung-cực, Thủy-đạo, đầu tiên trực châm, sâu 1,5-2 thốn. Sau đó vừa kích thích b́nh bổ, b́nh tả vừa rút kim ra. Khi rút tới da, th́ biến thành khoa châm, đẩy xéo trở xuống, sâu 1,5-2 thốn.

– Các huyệt Nội-quan, Túc tam lư, Tam âm giao, Túc bát phong khoa châm hướng thượng.

– Các huyệt c̣n lại trực châm.

4.2.3. Lưu kim

Lưu kim từ 20 tới 45 phút.

4.2.4. Biện chứng

Bản bệnh do hàn-thấp tạo thành. Mà Hàn-thấp gây ra ngăn trở vận hành Tỳ-vị. V́ vậy cần dùng các huyệt cận Tỳ-vị là Tam-uyển, Lương-môn, Túc-tam-lư để kích thích công năng. Thêm cặp huyệt Công-tôn, Nội-quan trị tất cả các bệnh trong và ngoài lồng ngực.

Các huyệt nhóm thứ nh́ đều thuộc Bối-du huyệt, dùng đưa chân khí từ tạng-phủ ra ngoài, cùng giải tà khí uẩn trong tạng-phủ.

– Nếu bệnh kiêm sôi bụng, bụng chướng, thêm các huyệt Thiên-xu, là Mộ-huyệt của Đại-trường phối Đại-hoành.

– Nếu bụng anh ách nước, thêm Trung-cực là Mộ-huyệt của Bàng-quang và Thủy-đạo là huyệt thông thủy để tống nội thấp trong cơ thể ra ngoài.

– Nếu phù thủng tại chân, thêm Túc-bát-phong để giải thấp cục bộ chân. Thận chủ thủy, chủ điều ḥa nước trong cơ thể, thêm huyệt Thái-khê là nguyên huyệt của Thận, hầu giải thủy. Cuối cùng là Tam-âm-giao để diều ḥa Can-Tỳ-Thận.

4.3. Cứu trị

Nếu dùng Cứu-trị độc lập th́ không có kết quả. V́ khi cứu hỏa vào cơ thể, làm tán hàn, nhưng không trục được thấp ra. V́ vậy Cứu trị chỉ có thể phụ trợ với Châm-trị mà thôi.

Cứu tất cả các huyệt tổng trị, và nhóm thứ nhất chuyên khoa, ngoại trừ Công-tôn, Nội-quan không cần thiết.

4.4. Phương pháp điều trị

Chúng ta có 3 phương pháp điều trị: Nhĩ-châm, Châm-thân và Cứu-trị. Vậy khi nào dùng Nhĩ-châm? Khi nào dùng Châm-thân? Khi nào dùng Cứu-trị?

– Nhĩ-châm cho kết quả tại chỗ, nhưng đối với bệnh kinh niên th́ lại không kết quả.

– Cứu-trị chỉ dùng để phụ trợ cho Châm-trị, chứ không thể dùng độc lập.

Vậy chúng ta nên dùng:

– Bệnh mới phát: Nhĩ-châm, Cứu-trị.

– Bệnh kinh niên: Châm-thân, Cứu-trị.

– Bệnh quá nặng: Châm-thân, Nhĩ-châm, Cứu trị.

– Cứ 10 lần là một bệnh tŕnh.

– Sau bệnh tŕnh thứ nhất, cho nghỉ 15 ngày, tái khám. Nếu ổn định, tiếp tục mỗi tuần một lần, trong 5 tuần, rồi cho nghỉ.

– Nếu chưa ổn định th́ trị sang bệnh tŕnh thứ nh́.

Ít khi phải dùng đến bệnh tŕnh thứ ba.

5. KHÍ CÔNG TRỊ

Yên-tử ngọa công bát pháp.

Ngày hai lần, sáng, chiều.

6. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP

Chúng ta có tất cả 4 loại điều trị:

– Dược trị,

– Châm cứu trị (Nhĩ-châm, Châm-thân, Cứu-trị)

– Khí công trị.

Có nên dùng cả 3 không?

– Trường hợp nhẹ th́ không cần,

– Trường hợp bệnh nặng th́ chỉ nên dùng Dược-trị, Châm-cứu trị. Nếu bệnh nhân thuộc loại cao niên th́ mới cần dùng cả ba.

7. KẾT LUẬN

Tỳ-vị hàn chứng thường thể hiện dưới dạng: Ăn không tiêu, bụng nước, đi đứng nặng nề.

– Không bao giờ có t́nh trạng Tỳ-dương hư, hay Vị-dương hư đơn thuần. Khi Tỳ-dương hư sẽ kéo theo Vị-dương hư; và ngược lại.

– Tỳ-dương hư lâu, thấp trụ lại trong cơ thể. Khi thấy Hàn-thấp trong cơ thể th́ phải hiểu là Tỳ-vị dương hư.

– Tỳ-dương hư, tạo thành rất nhiều thứ bệnh khác.

– Trị Tỳ-vị dương hư bằng châm cứu, bằng Trung-dược đều cho kết quả tốt.

Phần tŕnh bầy của chúng tôi đến đây chấm dứt. Tôi xin chờ những thắc mắc của Quư-vị.

Paris, ngày 19 tháng 10 năm 2003

Chú giải

 (1) Trung-y học viện Bắc-kinh, Trung-y cơ-sở, đệ lục chương, đệ tam tiết, Tạng phủ biện chứng, trang 117, Thượng-hải khoa học kỹ thuật xuất bản xă, 1978.

(2) Thành-đô Trung-y học viện chủ biên, Trung-y phương tế giảng nghiă, đệ thập nhất chương, Bổ ích dược, Trung-dược vệ-sinh xuất bản, 1977 trang 155.

(3) Sách đă dẫn 1, trang 117.

(4) Trương-trọng-Cảnh (219 sau Tây-lịch), Thương-hàn tạp bệnh luận. Cổ bản.

(5) Sách đă dẫn (1) trang 118.

(6) Phải cẩn thận: Thuốc này do dược pḥng Lan-châu Phật-từ chế dược phẩm, thuộc Lan-châu Trung-quốc chế tạo (Hộp có ghi tiếng Anh Lanzhou hay Lanchaw Fo Ci pharmaceutical factory, Lanzhou China). Ngoài hộp họ in chữ Trung-quốc Bổ trung ích khí hoàn, cạnh đó có phiên âm sang tiếng Latin là Buzhong yi qi wan. Mỗi hộp 100. Nhớ phải là Lan-châu, chứ cùng tên Bổ-trung ích khí hoàn mà do Đài-loan hay Hương-cảng th́ tôi không bảo đảm.

Thành phần như sau:

Hoàng thị    18,60%
Thường sâm    18,60%
Bạch truật    18,60%
Cam thảo    18,60%
Đương qui    12,10%
Trần b́    6,10%
Thăng ma    3,70%
Sài hồ    3,70%
Radix Astragali    18,60%
Radix Codonopsis Pilosulae    18,60%
Rhizoma Atractylodis Alba    18,60%
Radix Glycyrrhizae    18,60%
Radix Angelicae Simensis    12,10%
Pericarpium Citri Reticulatae    6,10%
Rhizoma Cimicifugae    3,70%
Radix Bulpeuri    3,70%