TÀI LIỆU Y HỌC

 

Bs. Trần Đại Sỹ

BỆNH PHONG THẤP

PHẦN I

 
  1. Bệnh Bao Tử
  2. Bệnh Đái Dầm
  3. Bệnh Phong Thấp
  4. Bệnh Tiểu Đường
  5. Hổ Cốt Mộc Qua Tửu
  6. Phục Dương Đại Bổ Tửu
  7. Thần Kinh Suy Nhược
  8. Thập Thức Bảo Kiện Pháp
  9. Trà Hảo Liên(Hao Ling)
 

 

Bản để in

 

PHẦN THỨ NHẤT

NGHIÊN CỨU TỔNG QUÁT

 

1. DẪN NHẬP

2. NGUỒN GỐC TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

3. BIỂU H̀NH PHONG THẤP.

3.1. Biểu h́nh1
3.2. Biểu h́nh 2,
3.3. Biểu h́nh 3,
3.4. Biểu h́nh 4,
3.5. Biểu h́nh 5
3.6. Biểu h́nh 6
3.7. Biểu h́nh 7
3.8. Biểu h́nh 8


1. DẪN NHẬP

Bệnh phong thấp b́nh dân gọi là là tê thấp. Từ y học là Tư chứng. Khi Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt thừa lúc cơ thể yếu đuối xâm nhập, lưu trú tại kinh lộ, cơ nhục, khớp xương, làm tổn thương huyết mạch và tâm, đưa đến : cơ thể, các khớp xương, chân tay sưng đỏ đau nhức, nặng nề, tê dại vv... bệnh nhân cảm thấy hàn nhiệt, biểu chứng. Tùy theo sự cảm nhiễm bệnh, chia ra làm bốn loại khác nhau :

– Hành tê (hành tư)
– Thống tê (thống tư)
– Trứ tê (trứ tư)
– Nhiệt tê (nhiệt tư)

Tư chứng có nghĩa là chứng bị bế tắc, khí huyết bị ngưng đọng lại. Nếu trị bệnh không đúng phép, hoặc bệnh thế nặng, th́ bệnh sẽ chuyển vào tâm do mạch, xuất hiện :

– Tâm ủy (hồi hộp lo âu)
– Khí đoản (hơi thở ngắn)
– Đau căng lồng ngực

Lâu ngày quá sẽ tổn hại tới tâm tạng, thành ra chứng Phong thấp tim (Tâm tư).

Chứng tê thấp thường xuất hiện ở những xứ ẩm thấp, hàn lạnh; nhất là vùng bùn lầy. Bởi bệnh phát sinh do Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt, trong đó Phong làm chủ. Bởi vậy vùng hàn, lănh th́ đương nhiên ẩm thấp, do vậy khi gặp Phong là mắc bệnh ngay.

Nguyên do : Phong là một loại tà khí, thường gọi tắt là Dương tà. Phong thường phát sinh trong không gian vào các Quư tiết. Quư tiết là ǵ? Theo lịch Á châu, mỗi năm có 24 tiết. Mỗi tiết khoảng 15 ngày. Quư tiết là 1 hay 2 ngày cuối tiết. Hai mươi bốn tiết là :

Mùa xuân có các tiết :

Lập-xuân, Vũ-thủy, Kinh-trập,
Xuân-phân, Thanh-minh, Cốc-vũ.

Mùa hạ có các tiết :

Lập-hạ, Tiểu-măn, Mang-chủng,
Hạ-chí, Tiểu-thử, Đại-thử.

Mùa thu có các tiết :

Lập-thu, Xử-thử, Bạch-lộ,
Thu-phân, Hàn-lộ, Sương-giáng.

Mùa đông có các tiết :

Lập-đông, Tiểu-tuyết, Đại-tuyết,
Đông-chí, Tiểu-hàn, Đại-hàn.

Mỗi tiết dài hơn mười lăm ngày. Hai tiết dài hơn một tháng. Mỗi người trong chúng ta phải mua một cuốn lịch Á-châu. Khi trị Phong thấp cho thân chủ : vào lúc bệnh đang giảm, tới cuối tiết lại trầm trọng hơn là v́ Phong tà mới nảy sinh nhập cơ thể, đừng ngạc nhiên. Tốt hơn hết, ta nên báo cho thân chủ biết trước, để tránh cho họ những lo âu khi Phong tái nhập cơ thể, gây phiền nhiễu cho họ.

Về tuổi mắc bệnh th́ tùy theo địa phương và dinh dưỡng.

2. NGUỒN GỐC TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Y học cổ truyền Đông phương đă sớm nói đến. Sách đầu tiên c̣n lưu truyền lại là Hoàng Đế Nội Kinh.

"Phong, Hàn, Thấp, tam khí tạp chí, hợp nhi vi tư giă
Kỳ Phong khí thắng giả vi hành tư
Hàn khí thắng giả vi thống tư,
Thấp khí thắng giả vi trứ tư dă"

(Nội Kinh, thiên Tư Luận)

Nghĩa là : Phong, Hàn, Thấp ba tạp khí đó xâm nhập, hợp lại thành Tư chứng.

– Nếu Phong khí mạnh hơn th́ là Hành tư,
– Nếu Hàn khí mạnh hơn th́ là Thống tư,
– Nếu Thấp khí mạnh hơn th́ là Trứ tư.

Tóm lại : Gọi là Phong thấp (Tư chứng) khi cơ thể bị ba tà khí cùng tấn công. Ba tà khí đó là Phong, Hàn, Thấp. C̣n khi trị, nếu làm mất đi một Tà khí là coi như đă có kết quả ngừng cơn đau, nhưng chưa khỏi. Y học Tây phương, dùng thuốc trấn thống, trấn viêm tức giải được Phong, ngừng dau. Nhưng Hàn, Thấp c̣n, th́ chỉ vài ngày Phong tái nhập, bệnh vẫn như cũ.

Biểu h́nh dưới :

– Ṿng tṛn phân ra Âm-Dương, tượng trưng cho cơ thể con người. Phần bên trái là Âm. Phần bên phải là Dương.

– Trong Phong thấp, Âm là huyết, giúp cơ thể chống Phong tà. Khi huyết hư (khuyết một miếng) không đủ sức pḥng vệ, Phong tà nhập.

– Phần bên phải là Dương. Trong Phong thấp, Dương là Tỳ dương và Thận dương. Tỳ dương giúp cơ thể chuyển vận thấp ra khỏi cơ thể. Khi Tỳ dương yếu (hư, khuyết một miếng) thấp nhập cơ thể. Thận dương giúp cơ thể chống lại Hàn (lạnh). Khi thận dương yếu (hư, khuyết một miếng) th́ Hàn nhập cơ thể.

Khi huyết hư, Tỳ dương hư, Thận dương hư th́ Phong, Hàn, Thấp cùng tấn công cơ thể. Cơ thể bị Phong thấp.

Lại nói :

"Ngũ tạng giai hữu hợp, bệnh cửu nhi bất khứ giả, nội hăm vu kỳ hợp giă.
... Mạch tư bất di, phục cảm vu tà, nội hăm vu tâm"

(Nội Kinh, thiên Tư Luận)

Nghĩa là : ngũ tạng đều có "hợp", nếu người bệnh lâu mà không dứt, th́ chuyển vào trong mà hợp lại... Mạch tư không khỏi, lại cảm tà, th́ chuyển vào tâm.

Nói tóm lại th́ chứng Tê thấp ngày càng nặng, không trị đúng phép, th́ chuyển vào tim, rất nguy hại. Y học Tây phương không trị được tận gốc, mà chỉ làm cho ngưng phác tác, làm trấn tĩnh mà thôi. Y học Đông phương từ cổ thời đă trị được hoàn toàn. Từ sau Nội kinh, th́ các nhà y học Trung hoa, Việt nam, Nhật bản, Triều tiên đă có những phương pháp luận trị rất uyên thâm, kết quả tốt đẹp.

Y Học Cổ Phương nói :

"Chứng tê thấp thường thấy trong dân gian, trị cũng dễ, mà chúng nhân không mấy kiên nhẫn, trị cho tận gốc.

Nhân Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt xâm nhập có thể mà thành bệnh. Chủ yếu là Phong. Nhưng một tà xâm nhập th́ không thành chứng Tê thấp. Tùy theo tà nào mạnh, mà bệnh có nhiều triệu chứng khác nhau. Nếu Phong mạnh th́ có chứng Tê thấp không nhất định, nay đau chỗ này, mai đau chỗ khác. Bởi Phong là Dương tà, tính của nó là "chạy giỏi" mà "hay biến đổi". Nếu Hàn xâm nhập mạnh th́ đau nhức như dần như cắt cố định một nơi. Nếu Thấp thắng th́ nước trong người nhiều, người úng những nước tưởng như béo, đi đứng nặng nề, tê mà đau... Nếu Nhiệt mạnh th́ có Phong nhiệt ..."

Sách Thương Hàn Luận và Kim Quỹ Yếu Lược cũng nói nhiều về chứng Tê thấp.

"Người bị bệnh, đau nhức, phát nhiệt, ngày càng nặng, bệnh gọi là Phong Thấp. Bệnh này do Phong nhập hoặc v́ do hàn lạnh lâu ngày nhập vậy", "Phong thấp truyền vào cơ thể, khớp xương đau nhức, đau như cắt, không co duỗi được các khớp xương, sờ tay vào thấy đau. Mồ hôi xuất, hơi thở ngắn, tiểu tiện bất lợi, ác phong mà không muốn bỏ y phục. Hoặc thân hơi phù thủng, dùng Camthảo phụ tử thang mà chữa".

Ngoài ra Trương Cảnh Nhạc, chú giải Nội Kinh, bàn về Tư chứng c̣n đặt ra một tên nữa là Thương Tiết Chứng (chứng đau khớp xương).

Bên Trung Hoa từ đời Đường, Tống về sau, bên Việt nam từ đời Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê, Nguyễn về sau đều có những nhà y học nghiên cứu về các căn bệnh này.

3. BIỂU H̀NH PHONG THẤP.

3.1. Biểu h́nh1, cơ thể b́nh thường : nửa bên phải là dương, là khí, có thể là thận dương, hay tỳ dương. Nửa bên trái là âm, là huyết.

3.2. Biểu h́nh 2, Thận dương hư (phần dương khuyết một miếng)

3.3. Biểu h́nh 3, Tỳ dương hư ( phần dương dưới khuyết một miếng).

3.4. Biểu h́nh 4, Huyết hư, phần âm bị khuyết một miếng.

3.5. Biểu h́nh 5, Tà khí Hàn (Lạnh)

3.6. Biểu h́nh 6, Thấp (Ướt)

 

3.7. Biểu h́nh 7, Phong (Virus, siêu vi trùng)

3.8. Biểu h́nh 8, Nhiệt (nóng)

 

trở về Mục Lục