TÀI LIỆU Y HỌC

 

Bs. Trần Đại Sỹ

BỆNH PHONG THẤP

PHẦN V

 
  1. Bệnh Bao Tử
  2. Bệnh Đái Dầm
  3. Bệnh Phong Thấp
  4. Bệnh Tiểu Đường
  5. Hổ Cốt Mộc Qua Tửu
  6. Phục Dương Đại Bổ Tửu
  7. Thần Kinh Suy Nhược
  8. Thập Thức Bảo Kiện Pháp
  9. Trà Hảo Liên(Hao Ling)
 

 

Bản để in

PHẦN THỨ NĂM

TỔNG KẾT

1.TỔNG LUẬN VỀ ĐIỀU TRỊ CHỨNG PHONG THẤP

2. BỆNH CÁ NHÂN VÀ DI TRUYỀN

2.1. TẠI TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI
2.2. TẠI TRƯỜNG ARMA PARIS

3. TỶ SỐ NGƯỜI MẮC BỆNH

4. PHÂN LOẠI CHỨNG PHONG THẤP

4.1. TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI
4.2. TRƯỜNG ARMA PARIS

5. THỜI GIAN TÁI PHÁT

5.1. TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI
5.2. TRƯỜNG ARMA PARIS

6. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ

7. DÙNG CHÂM CỨU THUẦN TÚY

7.1. TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI
7.2. TRƯỜNG ARMA PARIS

8. KHÍ CÔNG , THỂ DỤC KHÁNG BỆNH

9. KẾT LUẬN VỀ CHỨNG PHONG THẤP


1.TỔNG LUẬN VỀ ĐIỀU TRỊ CHỨNG PHONG THẤP

Như trên đă tŕnh bày các phương pháp điều trị chứng Phong thấp theo y học Đông phương. Chứng phong thấp sở dĩ phác tác một là do di truyền trong gia tộc, hoặc do khí huyết hư, rồi nhân ở trong vùng thấp, nhiệt hàn mà sinh ra. Sau khi điều trị, bệnh nhân đă khỏi cần phải :

– Bồi bổ khí, huyết bằng dược trị.

– Pḥng vệ cơ thể bằng khoa Khí công, hay các hoạt động thể thao.

Nếu không có sự bồi dưỡng sức khỏe đó, th́ bệnh rất mau tái phát. Ở Trung Hoa chúng tôi không nắm vững vấn đề, c̣n ở các nước Tây Âu, th́ dường như vấn đề không đặt ra. C̣n ở VN th́ có cả, bồi dưỡng về dược vật lẫn khí công và thể thao.

Sau đây chúng tôi tŕnh bày một số thống kê đă điều trị chứng phong thấp.

– Một là tại vùng Thượng Hải, Trung Quốc. Tài liệu của Trung Y Học Viện Thượng Hải. Phương pháp tuy có khác tài liệu này, nhưng phần tổng quát vẫn giống nhau, bởi cùng áp dụng nguyên lư, sinh lư, bệnh lư, trị pháp như nhau.

– Hai là tại trường ARMA, Paris, phương pháp sinh lư, bệnh lư, trị pháp giống như tài liệu này, nhưng có phần châm cứu trị mà không có phần dược trị. Hiện dược thảo Á Châu chưa thể xâm nhập thị trường Liên Âu.

2. BỆNH CÁ NHÂN VÀ DI TRUYỀN

2. 1. TẠI TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI

Trong 4000 trường hợp không chọn lựa th́ :

– Bệnh mắc hoàn toàn do cá nhân : 1200 người, chiếm 30%.

– Bệnh di truyền một đời : 1680 người, chiếm 42%.

– Bệnh di truyền từ 2 đời trở đi : 1120 người, chiếm 28%.

 

Phân loại

Không di truyền

Di truyền 1 đời

Di truyền 2 đời trở đi

Địa phương

Trung Y Học Viện Thượng Hải

30% (1200 người)

42% (1680 người)

28% (4120 người)

ARMA

7% (280 người)

63% (2520 người)

30%  (1200 người)

2.2. TẠI TRƯỜNG ARMA PARIS

Chọn 4000 trường hợp xin chữa trị Phong thấp bằng châm cứu :

– Bệnh mắc hoàn toàn do cá nhân : 280 người, chiếm 7%.

– Bệnh di truyền một đời : 2520 người, chiếm 63%.

– Bệnh di truyền từ 2 đời trở đi : 1200 người, chiếm 30%.

Có thể giải thích như sau :

– Tại Trung quốc, vấn đề chữa trị chứng Phong thấp không có ǵ khó khăn cho nên bệnh nhân di truyền nhiều đời không mấy cao.

– Hầu như số bệnh nhân mới phát đều ở Trung quốc, c̣n ở các nước Liên Âu đều do di truyền.

3. TỶ SỐNGƯỜI MẮC BỆNH

Lấy trong 1000 bệnh nhân xin điều trị, dù mắc các chứng khác, th́ :

– Tại Trung Quốc, vùng Thượng Hải, số người mắc Phong thấp là 8% tức 80 người.

– Tại các nước Bắc âu th́ số người bị mắc bệnh Phong thấp nhiều. Âu dược không trị được nên bệnh nhân tích lũy lại, con số cao. Hơn nữa bệnh nhân đến các pḥng mạch thuộc ARMA th́ luôn luôn để xin trị chứng phong thấp, nên tỷ xuất cao.

4. PHÂN LOẠI CHỨNG PHONG THẤP

Trong 4000 trường hợp bệnh nhân xin trị chứng Phong thấp, không chọn lựa tại :

4.1. TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI

  • Phong-thấp-chạy chiếm 1160 trường hợp tức 29%.
  • Phong-thấp-lạnh chiếm 800 trường hợp tức 20%.
  • Phong-thấp-tê chiếm 920 trường hợp tức 23%.
  • Phong-thấp-nhiệt chiếm 1120 trường hợp tức 28%.

4.2.TRƯỜNG ARMA PARIS

  • Phong-thấp-chạy chiếm 982 trường hợp tức 24,55%.
  • Phong-thấp-lạnh chiếm 1673 trường hợp tức 42,82%.
  • Phong-thấp-tê chiếm 1211 trường hợp tức 30,27%.
  • Phong-thấp-nhiệt chiếm 134 trường hợp tức 3,35%.

So sánh bệnh tật của hai th́ thấy :

– Tại các nước Bắc Âu, khí hậu lạnh nên thong, hàn, thấp hoành hành, bởi vậy phong- thấp-chạy, lạnh, tê nhiều hơn.

– Tại vùng Thượng Hải, khí hậu ấm hơn các nước Bắc Âu, nên phong-thấp-nhiệt nhiều hơn.

Phong-thấp-nhiệt hầu hết là các chứng nhiễm trùng, mà tại các nước Bắc Âu bệnh nhân phong thấp thường t́m đến các y sĩ điều trị bằng Tây dược trước, nếu không khỏi mới xin điều trị bằng châm cứu. Chứng Phong-thấp-nhiệt rất ít gặp trong hệ thống y sĩ của ARMA.

Cho nên không hẳn là tại các nước Bắc Âu ít bệnh nhân bị Phong-thấp-nhiệt.

Loại bệnh

Hành tư

Thống tư

Trứ tư

Nhiệt tư

Địa phương

TY HV Thượng hải

29%
(1160 người)

20%
(800 người)

23%
(920 người)

28%
(1120 người)

ARMA

24,55%
(982 người)

41,82%
(1673 người)

30,27%
(1211 người)

3,35% 
(134 người)

5. THỜI GIAN TÁI PHÁT

Nghiên cứu trong 4000 hồ sơ của Trung Y Học Viện Thượng Hải à 4000 hồ sơ của trường ARMA Paris về thời gian tái phát sau khi điều trị th́ thấy :

5.1. TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI

  • Sau một năm điều trị, tái phát 81 người, chiếm 2,025%
  • Sau hai năm điều trị, tái phát 203 người, chiếm 5,075%
  • Sau ba năm điều trị, tái phát 278 người, chiếm 6,95%
  • Sau bốn năm điều trị, tái phát 361 người, chiếm 0,025%

5.2. TRƯỜNG ARMA PARIS

  • Sau một năm điều trị, tái phát 325 người, chiếm 8,125%
  • Sau hai năm điều trị, tái phát 642 người, chiếm 16,05%
  • Sau ba năm điều trị, tái phát 981 người, chiếm 24,525%
  • Sau bốn năm điều trị, tái phát 1102 người, chiếm 27,55%

Xét trong kết quả thấy :

– Số bệnh nhân ở Trung quốc tái phát ít.

– Số bệnh nhân ở Bắc âu tái phát trội hơn cả.

6. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ

Xét trong 1000 hồ sơ bệnh nhân xin điều trị chứng tê thấp bằng dược vật và 1000 hồ sơ trị bệnh bằng châm cứu th́ thấy :

– Trung b́nh trị bằng châm cứu mất 15 ngày,

– Dùng dược trị mất 12 ngày tại Trung Quốc

– Trị tổng hợp bằng châm cứu và dược trị tại Trung Quốc mất 8 ngày.

Tại Trung Quốc trị tổng hợp rất mau, thời gian rút ngắn được một nửa. Bởi vậy nếu hoàn cảnh cho phép th́ trị bằng tổng hợp vừa đỡ thời giờ cho y sĩ vừa đỡ kéo dài thời gian đau đớn cho bệnh nhân.

7. DÙNG CHÂM CỨU THUẦN TÚY

So sánh việc dùng châm cứu trị thuần túy tại Trung Quốc, và Bắc Âu th́ thấy có sự khác biệt rất nhiều :

7.1. TRUNG Y HỌC VIỆN THƯỢNG HẢI

  • Từ 3 - 5 lần điều trị 1118 người khỏi, tỷ lệ 27,95%
  • Từ 6 - 10 lần điều trị 2445 người khỏi, tỷ lệ 61,125%
  • Từ 11 - 15 lần điều trị 315 người khỏi, tỷ lệ 7,875%
  • Từ 16 lần trở lên điều trị 122 người khỏi, tỷ lệ 3,05%

7.2. TRƯỜNG ARMA PARIS

  • Từ 3 - 5 lần điều trị 711 người khỏi, tỷ lệ 17,775%
  • Từ 6 - 10 lần điều trị 1090 người khỏi, tỷ lệ 28,25%
  • Từ 11 - 15 lần điều trị 1157 người khỏi, tỷ lệ 28,925%
  • Từ 16 lần trở lên điều trị 1042 người khỏi, tỷ lệ 26,05%

So sánh hai kết quả th́ thấy rơ ràng tại Trung Quốc tương đối khá mau, tại Bắc Âu th́ bệnh nặng, khí hậu ẩm, lạnh nên điều trị khó khăn.

Số lần trị

3 – 5 lần trị

6 – 10 lần trị

11 – 15 lần trị

trên 15 lần

Địa phương

Trung Y Học Viện Thượng Hải

27,95%
(1118 người)

61,125%
(2445 người)

7,875%
(315 người)

3,05%
(122 người)

ARMA

17,775%
(711 người)

27,25%
(1090 người)

29,925%
(1157 người)

26,05%
(1042 người)

Nh́n kết quả chung th́ hầu như bệnh nhân khỏi ở lần điều trị từ 3 tới 10. Như vậy kết quả điều trị mau chóng. Từ 11 lần trở lên đa số là bệnh kinh niên. Tại các nước Bắc Âu th́ th́ đa số bệnh nhân điều trị bằng Tây dược không khỏi mới đi điều trị bằng châm cứu, nên bệnh khó chữa hơn, thời gian điều trị cần lâu hơn.

8. KHÍ CÔNG , THỂ DỤC KHÁNG BỆNH

Không có con số so sánh tại Bắc Âu và Thượng Hải, bởi v́ Bắc Âu không áp dụng phương pháp pḥng ngự. Tại Thượng Hải các y sĩ sau khi đă trị bệnh cho bệnh nhân thường dậy họ tập Thái Cực Quyền, Bát Đoạn Cẩm v.v. để gia tăng khí lực cho bệnh nhân hầu chống bệnh tật.

So sánh 500 bệnh nhân sau khi điều trị xong, th́ thực tập khí công thể dục và 500 bệnh nhân không thực tập Khí công hoặc thể dục, th́ thấy kết quả đáng ngạc nhiên. Bởi vậy tập Khí công, thể dục là một liều thuốc pḥng ngự bệnh rất hữu hiệu.

 

Sau 1 năm

Sau 2 năm

Sau 4 năm

Sau 5 năm

Bậnh nhân có tập

5 người 1%

12 người2,4%

15 người 3%

20 người 4%

Bệnh nhận không tập

15 người3%

28 người5,4%

36 người7,2%

45 người9%

9. KẾT LUẬN VỀ CHỨNG PHONG THẤP

Phong thấp đối với y học Tây phương vẫn c̣n là một điều khó khăn. Lâm sàn điều trị thường phân bệnh ra làm hai :

Một là nhiễm trùng gây ra, th́ sử dụng khàngï sinh. Đông y gọi các trường hợp nhiễm trùng là phong thấp nhiệt. So sánh trị liệu của Đông và Tây y chúng tôi nhận thấy :

– Dùng kháng sinh th́ bệnh kết thúc mau, kết quả chắc chắn. Nhưng bệnh nhân bị những phản ứng phụ của thuốc gây cho cơ thể nhiều biến chứng.

– Dùng Đông y th́ kết quả chậm, nhưng bệnh nhân được an toàn.

Rất ít khi người y sĩ tại Âu Mỹ chịu điều trị Phong-thấp-nhiệt. Bởi khi bệnh nhân mới bị bệnh th́ các y sĩ trị phải cho kháng sinh, để tránh phiền hà về luật pháp.

Hai bệnh măn tính, sưng đau, th́ chỉ biết dùng các loại trấn tĩnh cơn đau, hoặc dùng các loại thuốc Cortisone. Điều này gây ra rất nhiều tai hại :

– Dùng thuốc trấn tĩnh cơn đau, rồi mấy ngày sau cơn nhức tự nó tan đi rồi tái phát trở lại, cứ thế, bệnh ngày càng nặng. Phong, Hàn, Thấp sẽ chạy vào tim vào phổi sinh bệnh nguy kịch. Hoặc để lâu th́ bệnh sẽ vào xương, xương mục, thay h́nh đổi dạng, không chữa được nữa.

Dùng thuốc trấn tĩnh cũng như Cortisone nhiều th́ cơ thể bị tổn hại, nhất là bộ máy sinh lư và tiêu hóa.

Cho nên hiện có phong trào nghiên cứu t́m hiểu về phương pháp điều trị của Đông y, bởi từ cổ đại, Đông y đă trị được chứng phong thấp có biện chứng rơ ràng.

Trong các phương pháp của Đông y th́ châm cứu được tán thưởng, bởi học châm cứu đến nơi đến chốn th́ thật là khó khăn, nhưng học để trị cơn đau nhức quả thực quá dễ dàng. Dù không nắm vững được sinh lư bệnh lư, cứ đau đâu châm đó bệnh cũng giảm mau lẹ, tuy sau đó tái phát nhưng cũng đ̣i hỏi thời gian lâu.

C̣n dược trị theo Đông y th́ có biện chứng minh bạch rơ ràng, nhưng để có thể điều trị bằng Đông dược, y sĩ phải biết rơ biện chứng sinh lư bệnh lư theo y học Đông phương, điều mà chúng tôi rất ít gặp được một y sĩ Tây phương nào nắm vững.

Trong những năm gần đây, tại Trung Quốc đă bắt đầu chế ra những loại thuốc sẵn để trị phong thấp, nhưng làm sao các y sĩ Tây phương biết phân bệnh thành loại phong thấp nào để điều trị ?

Học về Đông dược vẫn c̣n là một bước mới của y học Tây phương, ngay cả khoa châm cứu cũng vậy. Nhưng rồi ngày một ngày hai, với tinh thần khoa học thích kết quả thực tiễn của người Tây phương, chúng ta hy vọng họ sẽ mở rộng cửa để đón khoa Đông dược vào đại học.

Khi viết những ḍng này, th́ các viện nghiên cứu Đông dược tại Thượng Hải, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Bắc Kinh vv... đang thi nhau phân tích, thí nghiệm bằng các phương pháp Tây phương, để có thể tŕnh bày theo Tây phương các loại thuốc của Đông y. Phải công nhận là trước đây Đông y trị bệnh gặp nhiều khó khăn khi chẩn đoán bệnh nhưng nay nhờ những phương pháp chẩn đoán của Tây phương việc chẩn bệnh gặp nhiều điều thuận tiện, Đông y như một con diều gặp gió, bốc cao lên phục vụ nhân loại. Những thí nghiệm mà Đông y thâu thái của Tây y là : các bản phân tích máu, nước tiểu, bản đo tâm điện đồ (ECG), chụp quang tuyến X, Scanner, Ecographie, Dopler v.v.

 

 

trở về Mục Lục