TÀI LIỆU Y HỌC

 

Bs. Trần Đại Sỹ

BỆNH PHONG THẤP

PHẦN VII

 
  1. Bệnh Bao Tử
  2. Bệnh Đái Dầm
  3. Bệnh Phong Thấp
  4. Bệnh Tiểu Đường
  5. Hổ Cốt Mộc Qua Tửu
  6. Phục Dương Đại Bổ Tửu
  7. Thần Kinh Suy Nhược
  8. Thập Thức Bảo Kiện Pháp
  9. Trà Hảo Liên(Hao Ling)
 

 

Bản để in

PHẦN THỨ BẨY

Y ÁN THỰC NGHIỆM

Y ÁN THỨ NHẤT

Phong thấp lạnh di truyền

Y ÁN THỨ NH̀

Phong thấp nhiệt

Y ÁN THỨ BA

Phong thấp chạy

Y ÁN THỨ TƯ

Phong thấp tê

Y ÁN THỨ NĂM

Vua Lư Thánh Tông bị di chúng Phong thấp, bất lực sinh lư.

Y ÁN THỨ SÁU

Thần phi Ỷ Lan phong thấp chạy

Y ÁN THỨ BẨY

Phong thấp cấp tính

 


 

Dưới đây chúng tôi tŕnh bày một số y án thực nghiệm. Những y án này trị tại châu Âu từ 1975-1979.

Y ÁN THỨ NHẤT

Bệnh nhân Roger X, 66 tuổi, công chức về hưu, có vợ, 5 con đều trưởng thành.

1. BỆNH CHỦ TÁC

Bàn tay trái,  cần cổ, bị sưng nhức đau.

2. BỆNH SỬ

 Bệnh nhân khai trong gia đ́nh có di truyền chứng phong thấp.

– Cha chết về viêm khớp đa khu (Poly-arthrites) năm 62 tuổi.

– Trong 6 anh em ruột đều bị mắc bệnh phong thấp cả 6.

– Bệnh nhân bắt đầu sưng cườm tay phải vào năm 29 tuổi. Khi mới đau sưng nhức, lên cơn sốt, uống aspirine, bệnh biến mất sau 7 ngày. Bốn tháng sau bị lại, rồi lại khỏi với aspirine. Lần thứ ba xảy ra sau 4 tháng, ở cườm tay trái. Được trị bằng trụ sinh, 7 ngày bệnh biến mất.

– Một năm sau được Bác sĩ cho uống Célestène 2mg, ngày 2 viên.  Sau hai tháng giảm c̣n mỗi ngày 1 viên.  Bệnh nhân ăn rất nhiều tăng lên từ 49 kg thàng 60 kg. Từ đấy cứ mỗi ngày uống 2mg. Đă cố bỏ thuốc nhưng không được. T́nh trạng kéo dài 5 năm liền. Trọng lượng hiện tại 76kg.

 3. ĐÔNG CHẨN

3.1. VỌNG

–  Sắc mặt nhợt nhạt, chân tay nặng nề.

– Khu sau cổ từ C4 – D4 sưng đỏ.

– Cườm và bàn tay trái sưng, lạnh.

– Lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng trơn dầy.

3.2. VĂN

– Tiếng nói đục, không có hơi, hơi thở yếu.

– Có tiếng kḥ khè trong cổ họng.

3.3. VẤN 

–  Hiện đang uống cortisone  (Célestène 2mg ba viên ngày). Nhưng vẫn bị sưng nhức không chịu được.

– Bao tử (dạ dày) bị loét (Ulcère ). Đi cầu ra máu. Đang trị bằng Tây dược (Azantac 300) ngày 1 viên.

3.4. THIẾT

 Mạch trầm khẩn.

4. TÂY CHẨN

Quang tuyến X :

Các đầu khớp xương cùi chỏ, đầu gối, gót chân đều có bóng mờ, nhưng xương không dính liền với nhau, chưa thấy biến  h́nh dạng.

– Tim và phổi b́nh thường.

– VS giờ đầu 110, giờ thứ nh́ 28

– Hồng huyết cầu 3.500.000.

– Bạch cầu 12.800.

5. KẾT LUẬN,

Phong thấp lạnh bệnh di truyền do cha mẹ. Khí huyết hư, nên bệnh nhân bệnh sớm.

6. NGUYÊN TẮC THI TRỊ

 Ôn kinh thông lạc, tán hàn trừ thấp.

Đây là loại bệnh do tiên thiên khí yếu đuối, sau đó hậu thiên gặp khí hậu ẩm thấp sinh ra. Trị tổng hợp dược và châm cứu.

7. ĐIỀU TRỊ,

Hồn hợp dược, châm cứu,

Bỏ Célestène ngay. Vần dùng Azantac.

7.1. DƯỢC TRỊ

Ngày thứ nhất  đến thú 3 

Cho uống Tán hàn thang mỗi ngày một thang :

 Quế chi 10 g, Ô đầu 10 g, Xuyên ô 10 g, Sinh khương 6 g , Ma hoàng, Độc hoạt đều 6 g, Đương qui, Sinh địa, Trần b́, Nhân sâm, Đỗ trọng đều 7 g , Cam thảo 6 g .

7.2. CHÂM CỨU TRỊ

7.2.1. Huyệt áp thống cho tay (chỉ châm bên trái):

Hiệp cốc  (GI4) hướng Lao cung (MC8), Thủ bát phong (Kỳ), Dương khê (GI5), Dương tŕ (TR4), Dương cốc (IG5), Thần môn (C7), Đại lăng (MC7)

Huyệt áp thống cho cổ:

Hoa Đà  giáp tích tương ứng (C4-D4).Phong phủ (VG16), Đại trùy (VG14)

7.2.2. Huyệt chuyển kinh (chỉ châm bên trái)

Hoa Đà giáp tích C3 và D5.

Ngoại quan (TR45), Nội quan (MC6),

7.2.3. Huyệt thông kinh

Lạc chẩm (Kỳ), Hậu khê (IG3), Huyền chung (VB39), Nhân trung (VG26)

7.3. DIỄN TIẾN

Ngày thứ 4  bệnh nhân trở lại cho biết :

– Trọng lượng từ 72 kg sụt xuống c̣n 69 kg.– Cổ bàn tay  vẫn c̣n đau, nhưng chỗ sưng đă xẹp bớt.– Ngủ tốt, ăn nhiều, tiếng kḥ khè ở cổ giảm.

Châm cứu  như lần thứ nhất.

Vần uống thuốc 4 ngày liền.

Ngày thứ 8, bệnh nhân trở lại khai :

– Trọng lượng giảm c̣n 66 kg.– Không c̣n đau nhức, chân tay cử động tốt. Ăn ngủ tốt.

Điều trị như lần thứ nhất.

Ngày thứ 12, bệnh nhân trở lại khai :

– Trọng lượng giảm c̣n 65 kg.– Các chỗ khớp xương sưhg hết. Tuy nhiên cần cổ vẫn c̣n hơi đau.

Điều trị : bỏ các huyệt ở  tay, chỉ c̣n giữ các huyệt ở cần cổ .

Về dược, bỏ bớt Ô dầu, Sinh khương, Ma hoàng, thêm Kỷ tử 10 g.

Ngày thứ 16, bệnh nhân không c̣n sưng nhức nữa, người hồng hào khỏe mạnh. Trọng lượng c̣n 63 kg.

Cho thử nghiệm máu, quang tuyến X : Kết quả Bạch cầu, Hồng cầu, VS b́nh thường. Quang tuyến X, các khớp xương không c̣n bóng mờ nữa.

Cho uống Phục dương đại bổ tửu tức Nhất dạ lục giao sinh thất tử. Dạy cho Thập thức bảo kiện pháp để tập thể dục, gia tăng sức chống bệnh. Kiểm soát lại sau 3 – 6 – 9 tháng, sức khỏe tốt. Bệnh nhân xin tiếp tục uống Phục dương đại bổ tửu mỗi ngày một ly nhỏ khoảng 20 cc. Được chấp thuận.

(Y án ARMA)

Y ÁN THỨ NH̀

Bệnh nhân Rosalie Z 46 tuổi, có chồng, 3 con, đều trưởng thành. 

1. BỆNH CHỦ TÁC

 Sốt, khắp chân tay sưng nhức, đi đứng khó khăn.

2. BỆNH SỬ

 Bệnh bắt đầu 2 năm trước :  lên cơn sốt nhẹ, khắp các vết thương trên người sưng nhức. Khớp xương đầu gối không gập lại được. Sờ tay vào chỗ sưng hoặc gần lửa chỗ sưng đau như cắt  Bác sĩ gia đ́nh cho uống thuốc chống viêm, aspirine. Sau 7 ngày khỏi. Ba tháng sau, bệnh tái phát. Vẫn trị như cũ. Suốt 18 tháng, bệnh cứ trị lại tái phát. Bác sĩ gia đ́nh cho uống cortinsonne (Solupred 5 mg ngày 2 viên). Nay bệnh tái phát, uống cortisonne bị đau bao tử (dạ dầy). Xin trị bằng Đông dược.

3. ĐÔNG CHẨN,

3.1. VỌNG

– Trong hầu đỏ, hai trái amygdal sưng lớn.
– Cả hai đầu gối sưng đỏ, không gập lại được.
– Mặt đỏ,
– Miệng khô khát, rêu lưỡi vàng mỏng,
 – Người mề mệt,
– Đi đứng khó khăn.

3.2. VĂN

– Hơi thở có mùi tanh,
– Mồ hôi xuất ri rỉ.

3.3. VẤN

– Nước tiểu vàng,
– Khát, uống nhiều.

3.4. THIẾT

Mạch xác-hoạt.

4. TÂY CHẨN

– Mạch tim 105/phút,
– Nhiệt độ 38,4 C. Hai đầu gối, cần cổ, khớp xương tay đều sưng đỏ.
– Hồng huyết hồng cầu  3.500.000 đơn vị,
– Bạch cầu 11.200. VS giờ đầu 46, giờ thứ nh́ 84.
– Quang tuyến X : Không có ǵ lạ.

5. KẾT LUẬN

Phong thấp nhiệt.

6. NHUYÊN TẮC THI TRỊ

Thanh nhiệt, sơ phong, hoá thấp.

7. ĐIỀU TRỊ

Dùng dược trị

Thạch cao Tri mẫu Thương thuật cao gia giảm.

Thạch cao 35 g, Tri mẫu 10 g tiền, Thương thuật 15 g, Tang chi 35 g, Pḥng kỷ 12 g, Hoàng bách 12 g, Quế chi 9 g, Ư dĩ nhân 35 g

Sau khi uống liền 10 thang, tất cả mọi triệu chứng trở lại b́nh thường.

(Y án ARMA)

Y ÁN THỨ BA

Bệnh nhân Juliette P,  60 tuổi, góa chồng, một con trưởng thành. Thương gia.

1. BỆNH CHỦ TÁC

 Đau sưng nhức khắp người : đầu gối , cần cổ, cùi chỏ, bàn tay.

2. BỆNH SỬ

 Trong gia đ́nh có chứng phong thấp di truyền do cha để lại. Trong 4 anh chị em ruột, 2 người chết v́ Phong thấp tim 1 người c̣n sống hiện cũng bị phong thấp nặng. Bệnh phát tác vào năm 45 tuổi, khi theo chồng từ VN hồi hương về Pháp. Đă chữa bằng Aspirine, Cortisone, Vitamine B1, nhưng không khỏi. Trọng lượng 71 kg, cao 1,60 m. Hiện đau khắp người.

3. ĐÔNG CHẨN

3.1. VỌNG

–  Sắc mặt trắng nhợt,
– Người đầy nước.
– Đầu gối, vai, cùi chỏ bị sưng đỏ, cổ bị sưng  từ C6 – D3. Ấn tay vào th́ thành trắng, buông tay thành đỏ.
– Chân tay không lạnh lắm
– Rêu lưỡi lợt trắng ướt.
– Nhiệt độ 38,3 C, rất sợ lạnh.

3.2. VĂN

– Tiếng nói đục,
– Âm thanh không có ǵ đặc biệt.
– Cổ có tiếng kḥ khè.

3.3. VẤN

– Cơn đau khi phát khi không,
– Có khi phát sưng ở đầu gối phải, khi phát sưng ở đầu gối trái, khi ở lưng khi ở vai không nhất định.
– Thường trực uống 1,5 mg Betametasone.
– Loét bao tử (dạ dầy)

3.4. THIẾT

 – Mạch phù mà khẩn.

4. TÂY CHẨN

  • Quang tuyến X : Đầu gối cùi chỏ, cần cổ có bóng mờ, xương không có ǵ đặc biệt.
  • Hồng huyết cầu 3.550.000 đơn vị (hématies), bạch huyết cầu 12.700 đơn vị (leucocytes),

5. KẾT LUẬN

Đây là chứng phong-thấp-chạy, nhân tố tính trong gia đ́nh đă có bệnh di truyền, khi từ VN sang Pháp gặp vùng khí hậu hàn, thấp khiến khí huyết hư, sinh ra phong-thấp-chạy, chủ chứng là huyết hư.

6. NGUYÊN TẮC THI TRỊ

Sơ phong làm chính,
Thông lạc, lợi thấp, xả cân làm phụ
,

7. ĐIỀU TRỊ

Dùng châm cứu trị,

7.1. HUYỆT KHU PHONG GIẢI BIỂU

Tam phong (Phong phủ VG16, Phong tŕ VB20, Phong môn V12),  Đại chùy (VG14), Hiệp cốc (GI4),

7.2. HUYỆT THÔNG LẠC XẢ CÂN

7.2.1.  Áp thống chuyển kinh cổ:

Hoa đà giáp tích huyệt (C6-D3)

7.2.2. Áp thống chuyển kinh gối trái:

Độc tỷ (E35), Tất nhăn (Kỳ huyệt), Dương lăng tuyền (VB34), Âm lăng tuyền  (RP9), Khúc tuyền (F8), Tất dương quan (VB33), Huyết hải (RP10), Lương khâu (E34).

7.3. HUYỆT THÔNG KINH

7.3.1. Thông kinh cổ:

Nhân trung (VG26), Hậu khê (IG3).

7.3.2. Thông kinh gối trái:

Tam âm giao (RP6), Huyền chung (VB39).

7.4.  HUYỆT LỢI THẤP

Túc tam lư (E36), Trung uyển (VC12), Thái khê (R3).

7.5.  DIỄN TIẾN

7.5.1. Trị 1, ngày thứ nhất nh́, ba.

Khu phong, giải biểu.

Bệnh nhân trở lại cho biết chỉ c̣n đau gối trái, cần cổ.

7.5.2. Trị 2, ngày thứ tư, năm sáu bẩy

Như vậy phong tà đă giải.

Châm huyệt Áp thống, Thông kinh, Chuyển kinh và Lợi thấp.

 Bệnh nhân cho biết đi tiểu nhiều, không c̣n nóng sốt, sưng nhức nữa. Đo nhiệt độ thấy c̣n 37 độ C, tim đập c̣n 85/phút, trọng lượng c̣n 69 kg. Các chỗ sưng nhức không c̣n nữa.

7.5.3. Trị 3, ngày thứ tám, chín, mười

Chữa như lần thứ tư, thêm Cách du (V17), Huyết hải (RP10), Tam âm giao (RP6), Thái xung (F3). Bệnh nhân cho rằng khỏi, xin nghỉ.

Hai tháng sau bệnh nhân tới xin điều trị, v́ bệnh tái phát nhẹ chỉ ở cổ và gối trái. Giảng cho biết : Chứng phong thấp kinh niên, nhất là do di truyền từ đời trước lại, không phải trị một ngày hai ngày mà khỏi. Phải trị cho tuyệt nọc. Không cảm thấy đau, không có nghĩa là khỏi bệnh. Bởi cần phải bổ dưỡng.

7.5.4. Trị 4 : ba ngày liền.

Dùng cả trị 1 lẫn 2, trong ba ngày. Hết bệnh.

Thử lại máu, thấy hồng huyết cấu vẫn chỉ có 4.300.000, vi vậy cho uống Thập toàn đại bổ,  hai ngày một thang, uống liền 4 thang.

Bệnh nhân c̣n 59 kg, thử lại máu, hồng huyết cầu tăng lên 4.850.000. Tất cả các hiện tượng khác đều tốt, cho bệnh nhân nghỉ.

Kiểm soát lại sau 1 – 3 – 6 – 9 – 12 tháng, không thấy có triệu chứng ǵ khác. Cho nghỉ luôn.

(Y án của ARMA)

Y ÁN THỨ TƯ

Bệnh nhân Jean Paul C, 67 tuổi, công chức hồi hưu, vợ chết, 3 con đều trưởng thành.

1. BỆNH CHỦ TÁC

Sưng nhức cuối xương sống L2-S3.

2. BỆNH SỬ

 Trong gia đ́nh đời trước bị chứng phong thấp, mẹ chết v́ chứng này. Anh chị em ruột có 3 người đều bị phong thấp cả. Bệnh nhân bắt đầu sưng cần cổ phía sau từ C5 – D3 từ năm 41 tuổi, nhân sau một lần đi trượt tuyết. Từ đấy khi bị khi không. Đă nằm bệnh viện 4 lần, nhưng xuất viện ít lâu, bệnh tái phát. Hiện vẫn uống Cortisone với phân lượng 3 mg một ngày.

3. ĐÔNG CHẨN

3.1. VỌNG

– Sắc mặt nhợt nhạt,
– Chân tay phù, ấn vào thấy nước.
– Sau cần cổ, đầu gối, cùi chỏ, bả vai, cuối xương sống từ L4 – S5 sưng,
– Hai gót chân phù lên.
–  Người đi đứng hoạt động khó khăn. Các cơn đau chỉ ngấm ngầm, không dữ dội.
–  Chất lưỡi lợt, bợn lưỡi trắng dầy.

3.2. VĂN

–  Tiếng nói ồ ề, trong cổ có tiếng kêu kḥ khè.
– Tim đập 90/phút. Phổi tim không có ǵ đặc biệt.

3.3. VẤN

 – Trọng lượng 75 kg, cao 1,66 m.
– Trong lồng ngực đầy ứ, ăn vào bị đầy như có vật ǵ nghẽn ở cổ.
–  Không ho, sáng dậy khạc ra đờm.

4. TÂY CHẨN

  • Quang tuyến X , các khớp xương không có ǵ đặc biệt, tuy nhiên tất cả đều có bóng mờ.
  • VS giờ đầu 83, giờ thứ nh́110,
  • Hồng huyết cầu 350.000 đơn vị.
  • Bạch huyết cầu 12.500 đơn vị.

5. KẾT LUẬN

Phong-thấp-tê, bệnh di truyền kinh niên do khí huyết đều hư.

6. NGUYÊN TẮC THI TRỊ

Trừ thấp, xả cân,
Sơ phong,Tán hàn thông lạc,

7. CHÂM CỨU TRỊ

Dùng châm cứu trị, cứ 3 ngày một lần.

7.1. Huyệt sơ phong

Tam phong huyệt (Phong tŕ VB20, Phong phủ VC16, Phong môn V12).

7.2. HUYỆT TRỪ THẤP

Trung uyển (VC12), Túc tam lư (E36), Công tôn (RP4), Giải khê (E41), Trung cực (VC2), Thủy đạo (E28), Thái khê (R3) Phục lưu (R4).

7.3.  HUYỆT TÁN HÀN, THÔNG LẠC

7.3.1. Huyệt áp thống, chuyển kinh:

– Hoa Đà L2-S3,
– Huyệt chuyển kinh Hoa Đà L1 và S4.

7.3. 2.  Huyệt thông kinh :

– Nhân trung (VG26),
– Trường cường (VG1)
– Ủy trung (V54)

7.3.3. Huyệt chuyên khoa

Thận du (V23), Yêu nhăn (Kỳ)

7.4. SƠ PHONG

Tam phong huyệt (Phong tŕ VB20, Phong phủ VG16, Phong môn V12)

7.5. DIỄN TIẾN

7.5.1. Trị 1 lần điều trị thứ 1-3 : Huyệt sơ phong, huyệt Áp thống, Chuyển kinh.

Bệnh nhân đă thấy người nhẹ nhỏm. Tuy nhiên cơn đau vẫn c̣n.

7.5.2. Trị 2 lần thứ 4-10,

Bỏ huyệt sơ phong.
Dùng huyệt Áp thống, Chuyển kinh, Thông kinh, Trừ thấp.
Sau 10 lần, bệnh nhân hết đau, giảm 7kg. Cho nghỉ. Kiểm lại mỗi tháng 1 lần, trong 3 thang.

(Y án ARMA)

Y ÁN THỨ NĂM

Y án vua Lư Thánh Tông
(Bị di chứng phong thấp, bất lực sinh lư)

Xa giá Chương-thánh Gia-khánh hoàng-đế đến chùa Pháp-vân vào ngày rằm. Hộ giá nhà vua có quan Vạn-thảo quốc-công Dương B́nh. Hồi nhà vua c̣n là thái-tử th́ Dương B́nh được cử làm Thái-phó dạy học. Nên khi nhà vua lên ngôi, th́ Dương B́nh trở thành thái sư tước phong tới Quốc-công. Nay Dương quốc công tuổi cao, xin về hưu để hành y đạo cứu người. Tuy nhiên, trong dịp nhà vua hành hương chùa Pháp-vân, Quốc-công cũng hộ giá, hầu chăm sóc bệnh cho ngài. Ngoài ra c̣n có Thượng-Dương hoàng hậu, ba công chúa Thiên-Thành, Động-Thiên, Thiên-Ninh với hai Pḥ-mă. Thái-bảo Lư Thường-Kiệt chỉ huy toàn bộ thị-vệ, cung nga, thái giám theo hầu.

Kể từ hôm rằm, mỗi ngày chư tăng làm một tuần chay. Hằng ngày, vào buổi trưa, trước giờ Ngọ, là nhà vua lại sai đem cơm nắm, xôi, oản, khoai, ngô cùng những thực vật cúng Phật, cúng cô hồn để chính tay ngài phát chẩn cho dân nghèo. Ăn mày, kẻ khó khắp nơi, nghe tiếng, ùn ùn kéo về chùa.

Hồi đầu th́ chỉ có người nghèo tới xin bố thí. Nhưng sau, người ta ṭ ṃ muốn biết long nhan của nhà vua ra sao, nên cũng xếp hàng khất thực. Lại có người mang xôi, mang hoa quả tới dâng nhà vua, để nhà vua phát chẩn. Nhà vua trang phục như một cư sĩ, đích thân trao tận tay phẩm vật cho đám người bần khổ. Quan thái-bảo Lư Thường-Kiệt, quan tổng lĩnh đạo Ngự-long là hữu-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Dư Phi, quan tổng lĩnh đạo Đằng-hải là Tả-thiên ngưu vệ đại tướng quân Ngô Thường-Hiến (em ruột Thường-Kiệt) luân phiên theo hộ giá.

V́ chùa có lệ không thể cho nữ tín chủ ở lại, nên Thượng-Dương hoàng hậu, cùng các phi tần theo hầu phải đóng hành doanh ở dinh Trung-nghĩa đại tướng quân, Siêu-loại hầu. Trịnh Quang-Thạch cho các thanh nữ trong trang ấp của y thay nhau chầu hầu nhà vua cùng hoàng-hậu, hy vọng xem trong đó có người nào là Hằng-Nga giáng thế không.

Đến ngày thứ ba mươi, nhà vua cùng Thượng-Dương hoàng-hậu đang phát thực phẩm cho kẻ khó, th́ có người ăn mày liệt hai tay đến trước nhà vua:

– Này ông ơi, ông có phải là vua không?

Nhà vua đáp:

– Đúng, ta là vua.

– Thế vua là ǵ? Có nhớn hơn Lư-trưởng không?

Dư Phi đáp thay vua:

– Lớn hơn nhiều lắm lắm.

– Bằng ông tiên chỉ không?

– Hơn nữa.

– À, như vậy là bằng ông chánh tổng hẳn?

Dư Phi chỉ lên trời:

– Nhỏ hơn trời một chút.

– Như vậy là ông trời con.

Thượng-Dương hoàng-hậu cau mày đáp:

– Vua là con trời, do trời sai xuống hạ giới cai trị trăm họ. Vua là chúa tể tất cả mọi người trong nước, có quyền cho ai sống th́ được sống, có quyền bắt ai chết th́ phải chết.

– Tưởng ǵ, chứ vậy th́ vua không khác chi tên đồ tể giữa bầy lợn, bầy gà. Người đồ tể muốn cho con lợn, con gà nào sống th́ được sống, muốn bắt con nào chết th́ phải chết. Ối! Tôi không tin, v́ người ta đồn ông Vua này tốt lắm.

Thượng-Dương hoàng-hậu quát :

– Mi biết cái ǵ mà nói? Mi có câm cái mơm đi không?

Người ăn mày cũng không vừa:

– Vậy mà người ta bảo vua là người có phúc trạch nhất thiên hạ. Phúc th́ có hai phần, một phần do tiên tổ để lại, một phần do ḿnh tích lũy thêm. Hôm nay vua đi cầu siêu, cầu có con, t́m Hằng-Nga, mà lại đem cái người thất đức, vừa mở miệng ra là gấu ó như quỷ A-tu-la, th́ làm sao mà đắc phúc nhỉ?

Hoàng-hậu chỉ mặt người ăn mày:

– Thị vệ đâu, đem tên này ra chém tức th́ về tội đại bất kính.

Viên thái giám già, lĩnh chức Chi-hậu nội nhân Nguyễn Bông là người hầu cận Hoàng-hậu từ khi tiến cung. Y đứng cạnh đó, nghe Hoàng-hậu ban chỉ, y định gọi thị-vệ bắt người ăn mày.

Nhà Vua phất tay ra hiệu ngừng lại:

– Để cho người ta nói.

Người ăn mày vẫn tỏ vẻ không sợ:

– Này ông Vua, cái bà nói năng như A-tu-la kia là ai vậy? Tôi trông tướng, dường như bà có điều ǵ uất ức đến vài chục năm nay mà chưa giải được, v́ vậy trong ḷng bà oán hận không ít. Thân bà tuy đứng cạnh ông Vua, mà ḷng e lại không chí t́nh với ông. Ôi! Hoàng-hậu là mẫu nghi thiên hạ, là cội phúc của gịng giống nhà vua sau này mà như thế ư?

Nhà vua trao cho y một phẩm oản, với quả chuối. Người ăn mày nói:

– Tay tôi bị tê. Ông vua đút cho tôi ăn được không?

Nhà vua chỉ tảng đá gần đó:

– Người ngồi xuống đây, trẫm đút cho mà ăn.

Nhà vua đưa oản đút cho người ăn mày. Y cắn oản ăn ngon lành vô cùng. Trong khi đó Thượng-Dương hoàng hậu bực ḿnh nh́n đi nơi khác. Sau khi cho người hành khất ăn hết phẩm oản, với quả chuối, nhà vua c̣n bưng bát nước vối đưa lên miệng cho y uống. Uống xong người ăn mày cung tay:

– Vật bố thí không bằng cung cách bố thí. Từ tiền cổ đến giờ, dù vua Hùng, vua An-Dương của Đại-Việt; dù Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang của Trung-quốc cũng không có vị nào lại nhân từ thương dân như bệ hạ. Đức trạch này, nhất định bệ hạ sẽ gặp lại Hằng-Nga, và sau đó Hằng-Nga sẽ sinh cho bệ hạ hai hoàng nam. Trong hai hoàng nam ấy, th́ một là Thanh-Y đồng tử, một là Tiên-Đồng con vua Xích-Đế. Sau này hai vị đó sẽ làm lên những sự nghiệp kinh thiên động địa, hiển hách cho Đại-Việt.

Ngay từ lúc thấy người ăn mày, nhà vua đă biết đây là dị nhân, nhưng ngài vẫn vui vẻ, xem dị nhân định làm ǵ. Trong khi đút oản, chuối cho dị nhân, ngài thấy rơ ràng một tay y nắm lấy huyệt Thái-khê trái, một tay án vào huyệt Thận-du phải của ḿnh. Một luồng nội lực cực kỳ hùng hậu, chính đại quang minh tuôn vào người ngài như thác đổ, như băng tan. Ngài nghĩ thầm:

– Người này là ai mà nội lực Tiêu-sơn lại mạnh đến như thế? Ta tưởng trên đời này chỉ chị Bảo-Ḥa, B́nh-Dương cùng anh Thiệu-Thái mới luyện đến tŕnh độ tối cao mà thôi. Y c̣n trẻ, mà sao thiền-công Tiêu-Sơn coi bộ muốn ngang với quốc-sư Huệ-Sinh?

Nhà vua hỏi:

– Xin dị nhân cho biết cao danh quư tính?

– Danh ư? Tính ư? Tôi chẳng có. Hoặc giả bệ hạ muốn gọi, xin cứ coi tôi như con chó, con mèo, hay con trâu, con ḅ cũng được.

Nói rồi người ăn mày xá nhà vua, thủng thẳng bỏ đi. Hoàng-hậu đưa mắt cho Chi-hậu Nguyễn Bông. Y theo sát sau lưng người ăn mày. Tất cả những hành động của người hành khất không qua được mắt được Vạn-thảo quốc-công Dương B́nh với thái-bảo Lư Thường-Kiệt. Dương B́nh hỏi nhà vua:

– Tâu bệ hạ, v́ vị tiểu sư phụ đó đă dồn thiền-công Tiêu-Sơn vào người bệ hạ quá nhiều, xin bệ hạ vận khí theo ṿng Tiểu chu-thiên, để ḥa hợp với nội công Tản-viên.

Nhà Vua kinh ngạc:

– Dị nhân đó là một vị tăng ư?

– Tâu bệ hạ đúng vậy. V́ thần thấy người đội cái mũ vải che kín hết đầu, lại hơi có mùi hương, th́ biết là một vị tăng. Có điều vị tăng này c̣n quá trẻ, mà sao Thiền-công đă cao đến tŕnh độ như vậy? Trên đời, thần chỉ thấy bồ tát Minh-Không, với pḥ mă Thân Thiệu-Thái là luyện tới mức này mà thôi. Thần e Quốc-sư Huệ-Sinh cũng không bằng.

Nhà vua hỏi:

– Có ai biết gốc tích tiểu hoà-thượng ấy ra sao?

Dư Phi tâu:

– Tâu bệ hạ, tiểu-ḥa thượng đó không ai biết tu ở chùa nào, thuộc gịng nào. Ông thường mặc quần áo rách rưới đi khất thực. Khất thực được ǵ, ông đem chia cho đám ăn mày cùng khổ. Tối tối ông ra chợ, ngủ với chúng, giảng đạo lư cho chúng. Dân Thăng-long gọi ông là Khất hoà-thượng. Tuổi ông dường như c̣n nhỏ, chưa quá hai mươi lăm. Không rơ ông học thuốc với ai, từ bao giờ, mà y thuật rất cao minh. Một lần gặp Quốc-sư Huệ-Sinh, ông gọi quốc-sư là sư đệ. Sau đó không biết Quốc-sư bàn ǵ với ông đến nửa ngày, rồi Quốc-sư bái ông, gọi ông là Bồ-tát Minh-Không tái đầu thai trở lại Đại-Việt.

Thường-Kiệt là quản Khu mật-viện, ông tâu:

– Tâu hoàng-thượng, ngài họ Nguyễn, tên là Lộ, quê ở vùng Hải-thanh (Nay thuộc Thái-b́nh). Ngài đích thực là Bồ-tát giáng sinh. Tuy tuổi c̣n trẻ, mà ngài không hề phân biệt nam nữ. V́ vậy có kẻ ghét ngài, bảo ngài có tính dê xồm. Ngài vui vẻ tự nhận là Lăo Dương, thành ra người ta tưởng ngài họ Dương. V́ không biết rơ tên ngài là ǵ, chúng nhân gọi ngài là Dương Không-Lộ, hay Không-Lộ. Khi gặp Quốc-sư Huệ-Sinh, ngài gọi Quốc-sư là sư đệ. Ngài xưng là hậu thân của Bồ-tát Minh-Không. Quốc-sư và phái Tiêu-sơn đă cật vấn ngài về hành trạng của Bồ-tát Minh-Không, ngài đáp đúng hết. Cho nên người ta gọi ngài là Minh-Không.

– Như vậy th́ đây là một vị Bồ-tát giáng thế rồi.

Nhà vua than: Từ khi đạo đức Thế-tôn vào Đại-Việt, đă có không biết bao nhiêu Bồ-tát đắc đạo. Phải rồi, việc này trẫm đă được Lễ bộ tâu đầy đủ. Khi ngài Minh-Không sắp viên tịch, hoàng-khảo là đệ tử của người cũng hiện diện. Ngài có phán: sẽ đầu thai trở lại để giúp tộc Việt giữ nước, cùng độ cho người có duyên. Sau đó người để lại bốn bài kệ, niêm phong thực kín, trao cho Quốc-sư Huệ-Sinh, dặn rằng khi có vị tăng nào xưng là ngài, th́ cứ bắt phải đọc bốn bài kệ kia. Nếu đọc đúng, th́ chính là ngài. Cho nên hôm Quốc-sư gặp nhà sư trẻ xưng là Minh-Không, người yêu cầu viết bốn bài kệ ra. Quả nhiên nhà sư trẻ viết không sai một chút. Phái Tiêu-sơn c̣n cật vấn nhà sư đến hơn trăm điều về hành trạng của ngài Minh-Không, nhà sư đều đáp trúng hết. Nên chi phái này nhận nhà sư chính là ngài Minh-Không tái sinh (7).

Ghi chú,

(7) Luật Luân-hồi nhà Phật đă được chép rất nhiều trong Thiền-sử Việt. Ngày nay, Phật-giáo Tây-tạng vẫn c̣n giữ nguyên. Đức Đạt-lai Lạt-ma là đức Quan-âm luân hồi tái sinh. Ngài cùng các vị Lạt-ma Tây-tạng, trước khi viên tịch thường để lại những mật thư, mật kệ trao cho để tử giữ kín, đợi đến khi các vị tái đầu thai, sẽ t́m gặp. Đệ tử bắt người ấy phải nói hết những bí mật trong mật thư, mật kệ kia, rồi c̣n phải trả lời hằng trăm câu hỏi về tiền kiếp. Sau khi người ấy đáp đúng, th́ tiền kiếp mới được xác nhận.

Dương B́nh vẫy tay cho mọi người im lặng để nhà vua vận công. Nhà vua vội ngồi ngay ngắn lại rồi vận khí. Ngài chỉ vận có ba ṿng Tiểu chu-thiên là chân khí Tản-viên với Tiêu-sơn ḥa lẫn với nhau ngay. Dương B́nh chạy lại bắt mạch nhà vua. Ông nhíu mày suy nghĩ, rồi nói một ḿnh:

– Sao lại có thể thế được nhỉ?

Thượng-Dương hoàng-hậu hỏi Dương B́nh:

– Tên trọc đó đă làm hại Hoàng-thượng chăng?

– Tâu Hoàng-hậu trái lại, vị tiểu-sư-phụ đó đă mở tâm Bồ-đề dồn chân khí để trị bệnh cho Hoàng-thượng.

Hoàng-hậu cau mày:

– Bệnh Hoàng-thượng đến Quốc-công cũng chịu thua, th́ cái tên trọc con thối tha kia làm sao mà trị được?

– Tâu Hoàng-hậu, hồi niên thiếu Hoàng-thượng ở trên Tản-lĩnh một thời gian lâu. Khí hậu trên Tản-lĩnh rất lạnh, v́ vậy vệ khí cơ thể Hoàng-thượng chống không nổi, nên đă bị bệnh phong thấp.

– Lạnh mà làm thành phong thấp ư? Xin Quốc-công giảng cho nghe về chứng bệnh này!

Dương B́nh nghĩ thầm:

– Ḿnh đă từng giảng cho bà Hoàng-hậu hữu danh vô thực này nhiều lần về chứng phong thấp, mà sao nay bà ta c̣n hỏi lại làm ǵ đây? Ừ th́ thôi ta cũng giảng lần nữa, có mất ǵ đâu?

Ông tiếp: tâu Hoàng-hậu phong thấp trong y-học c̣n gọi là tư-chứng. Tư nghĩa là tê. Nên đôi khi tiếng Việt gọi là tê-thấp. Nguyên do chứng này có hai phần. Một là ngoại nhân, hai là nội nhân. Ngoại th́ do phong, hàn, thấp từ ngoài nhập vào cơ thể. Thế nhưng tại sao có rất nhiều người cùng sống trong một vùng, mà phong, hàn, thấy không nhập được vào cơ thể? Như hồi hoàng-thượng sống trên Tản-lĩnh; bấy giờ tiên-nương Bảo-Ḥa cũng ở trên ấy, Thái-bảo Thường-Kiệt cũng ở trên ấy, bốn tiên cô Thân Mai, Thân Lan, Thân Cúc, Thân Trúc cũng ở trên ấy; biết bao nhiêu đệ tử phái Tản-viên cũng ở trên ấy, mà không ai bị phong thấp cả?

Hoàng-hậu mở to mắt ra, tỏ vẻ suy nghĩ. Đứng sau nhà vua, Thái-bảo Thường-Kiệt nh́n Hoàng-hậu, ḷng đầy thương cảm:

– Hồi niên thiếu ḿnh với Hồng-Hạc đă từng sống với nhau biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ ở Bắc-cương. Thế rồi nàng bị tiến cung do mưu đồ lớn của ông nội nàng. Nàng tuy được phong làm Hoàng hậu, nhưng hữu danh vô thực. Suốt hơn hai mươi năm qua, Hoàng-thượng không chung chăn gối với nàng, thành ra cho đến lúc này, nàng cũng vẫn chỉ c̣n là cô gái đồng trinh mà thôi. Tội nghiệp, hai mươi hai năm sống trong tẻ lạnh, nay nhan sắc đă tàn phai, khóe mắt ngoài đă có vết dăn như hai chân vịt, dưới bọng mắt có hai cái b́u như hai quả nhót... Nhưng ḿnh... ḿnh bị kẻ gian đầu độc rồi tĩnh thân, mà cho đến nay ḿnh cũng không biết kẻ hại ḿnh là ai? Ai cũng bảo là Hồng-Hạc hại ḿnh. Nhưng ḿnh thấy Hồng-Hạc yêu thương ḿnh rất mực, chắc không phải nàng hại ḿnh. Ḿnh đă thề, nếu t́m ra kẻ nào hại ḿnh, th́ ḿnh sẽ giết cả họ nó để trả cái hận thiên thu này. Dường như sư phụ Bảo-Ḥa, sư thúc Thanh-Mai, Tự-Mai đă biết thủ phạm là ai, nhưng các người không nói ra mà thôi.

Tiếng Dương B́nh vẫn giảng:

– Ngoại tà gồm phong, hàn, thấp. Sở dĩ chúng nhập được vào cơ thể là v́ nội nhân. Nội nhân là ǵ? Là v́ cơ thể suy nhược. Nhưng bộ phận nào trong cơ thể suy nhược kia chứ? Đầu tiên là huyết hư. Huyết thuộc âm, khi huyết hư th́ cơ thể không đủ âm chất bảo vệ nên phong là dương tà từ ngoài nhập vào. Thứ nh́ là thận-dương hư. Thận dương chủ dương khí bảo về toàn thân. Khi thận dương hư, không đủ chống với lạnh, th́ hàn từ ngoài nhập vào cơ thể. Thứ ba là tỳ dương hư. Tỳ chủ vận, hóa, luân chuyển chân khí, chủ chống với ẩm ướt, tức là thấp. Khi tỳ dương hư, không đủ bảo vệ cơ thể, nên thấp nhập cơ thể qua đường da.

Ông ngừng lại, rồi tiếp:

– Phong thấp sinh ra, do ba nguyên nhân trong con người là huyết hư, thận dương hư, tỳ dương hư; rồi ba ngoại tà phong, hàn, thấp thừa hư nhập cơ thể. Ngoài ra c̣n một loại phong thấp nữa là phong thấp nhiệt, nhưng hơi hiếm. Phong thấp nhiệt th́ do phong, nhiệt, thấp nhập cơ thể, bởi v́ huyết, thận âm hư, và tỳ hư.

Thường-Kiệt hỏi:

– Kính sư thúc, thế làm sao mà biết rằng ḿnh bị phong thấp nó hành? Nhiều người cứ thấy đau khớp xương th́ vội kêu là phong thấp, rồi mua thuốc uống bừa, tiền mất, tật mang.

Dương B́nh thấy Thường-Kiệt gọi ḿnh là sư thúc, th́ cảm động, ông nói:

– Cũng không khó lắm đâu. Chứng trạng chung của phong-thấp là chân tay thấy tê dại, đi đứng khó khăn, người cảm thấy ớn lạnh, đôi khi lên cơn sốt, rồi các khớp xương như cổ, vai, cùi chỏ, đầu gối, cuối lưng sưng đỏ lên. Cũng có người bị bệnh lâu rồi, th́ chân, tay co rút gấp lại không được; vai bị bế tắc không dơ tay lên nổi. Thường th́ cơn đau nhức không trị, đôi khi cũng biến mất. Rồi sau đó hoặc là mệt mỏi, hoặc là cảm mạo, hoặc ăn uống thực vật khó tiêu, hoặc là thời tiết đang nắng ráo đổi sang âm u, mưa băo lại tái phát.

Một cung nữ hầu cận nhà vua, hỏi:

– Thưa Quốc-công, tiểu tỳ là Trịnh Huyền, chầu hầu Hoàng-thượng bấy lâu th́ chỉ thấy người đau ở ngang lưng, đôi khi ở bàn tay trái. C̣n Linh-Cảm thái-hậu th́ lại đau nhẹ thôi, đa số ở đầu gối. Trong khi đó quan Chi-hậu nội nhân Nguyễn Bông đây; th́ hôm nay đau cổ, ngày mai đau vai, rồi có khi lại đau đầu gối. Có ǵ khác lạ giữa ba cơ thể không?

Dương B́nh liếc nh́n người cung nữ, rồi trả lời:

– Cô nương hỏi vậy thực phải. Khi mắc bệnh, th́ tùy tŕnh độ cơ thể hư nhược khác nhau. Nếu như huyết hư nhiều hơn, th́ phong nhập mạnh. Phong là dương tà, thiện hành, đa biến, nên hôm nay đau chỗ này, mai đau chỗ khác. Loại này gọi là hành tư tức phong thấp chạy. C̣n thận dương hư nhiều hơn, hễ đau chỗ nào th́ đau măi ở chỗ đó, chỗ đau sưng đỏ sờ vào thấy lạnh. Nếu chỗ đau gặp nóng, th́ giảm. Ngược lại chỗ đau gặp lạnh th́ cảm thấy đau hơn. Loại này gọi là thống-tư. Loại thứ ba th́ cảm thấy chân tay tê dại, nặng nề, đi đứng khó khăn, chỗ đau cố định, nhưng cơn đau không gắt, người mập ra. Đây là trường hợp tỳ dương hư nặng hơn, thấp lưu lại trong cơ thể nhiều mà sinh ra.

Nhà vua hỏi:

– Như vậy là trẫm bị thống tư từ hồi niên thiếu. Nhưng sau khi về kinh, thầy đă trị cho trẫm khỏi rồi kia mà? Dường như thầy cho trẫm uống ba thang thuốc, th́ hết đau. Sau lại cho trẫm uống thuốc bổ nữa, nên suốt hai chục năm qua, bệnh không trở lại, sao bây giờ thầy lại nhắc tới, như là bệnh trẫm tái phát vậy?

– Tâu bệ hạ năm ấy thần dâng bệ-hạ thang thuốc trị phong thấp như sau:

Ma-hoàng 3 tiền, Bạch-thược 3 tiền,
Hoàng-thị 4 tiền, Cam-thảo 2 tiền,
Ô-đầu 2 tiền, Mật ong 4 tiền,
Uy-linh tiên 2 tiền, Khương-hoàng 3 tiền.

V́ sợ rằng sau khi bị tư chứng, có thể đưa đến không con, nên lúc bệ hạ khỏi đau, thần dâng phương thuốc tễ để bổ thận, tráng dương. Thành phần như sau: Địa-ḥang 8 lạng, Sơn-dược 4 lạng, Sơn-thù du 4 lạng, Trạch-tả 3 lạng, Phục-linh 3 lạng, Mẫu-đơn-b́ 3 lạng, Quế-chi 1 lạng, Phụ-tử một lạng. Thần thêm mật ong để chế tễ, mỗi viên bằng hạt ngô. Ngày bệ hạ uống 15 tới 25 viên, uống với rượu vào buổi sáng sớm. V́ vậy kể từ đấy, chứng phong thấp của bệ hạ không tái phát nữa (8).

Ghi chú,

(8) Chứng phong thấp (Rhumatisme) cho đến nay, y học Tây phương chỉ có thể dùng thuốc trấn thống (anti-antalgique), trấn viêm (anti-inflamatoire) để giúp bệnh nhân thoát cơn đau, sưng. Nhưng không trị dứt được. Y học Đại-Việt thời Lư đă trị đứt được chứng này, trên cơ sở lư luận rất vững. Ngày nay chúng tôi c̣n dùng để trị bệnh phong thấp, vẫn thu được kết quả tốt. Phương thuốc mà Dương B́nh trị cho vua Lư Thánh-tông ở trên, ngày nay vẫn c̣n dùng được. Kết quả tốt.

Hoàng-hậu vẫn chưa chịu ngừng:

– Quốc-công nói bệnh Hoàng-thượng khỏi rồi, sao ban năy quốc-công tâu rằng thằng trọc con chữa bệnh cho hoàng-thượng?

– Tuy hồi đó bệnh Hoàng-thượng đă khỏi, nhưng chân dương yếu. Con người ta, dù tiên, dù thánh, dù thần, rồi cũng không thể qua cái tuổi già, qua cái chết. Bệ-hạ nay niên kỷ đă trên bốn mươi, nên chân dương càng kém, như thế th́ sao có thể sinh hoàng nam? V́ vậy vị tiểu sư phụ đă phát tâm Bồ-đề, dồn chân khí sang trợ bệ hạ. Chân khí của tiểu sư phụ là chân khí của đồng tử, của người đi tu. Chân khí đó hợp với chân khí bệ-hạ, thành một chân khí mới.

Đến đó người xếp hàng xin phát chẩn càng đông, nhà vua vội quay lại bố thí. Sau khi bố thí xong, nhà vua nháy Dương B́nh, Thường-Kiệt cùng dạo chơi quanh chùa. Nhà vua hỏi Dương B́nh:

– Theo như thầy biết, liệu trẫm có thể sinh hoàng nam không?

– Tâu bệ hạ có. Nhưng...

– Ở đây chỉ có Quốc-công là thầy trẫm, Thường-Kiệt là ruột gan trẫm, dù có ǵ bí ẩn đến đến đâu cũng xin thầy nói cho trẫm nghe.

– Mấy năm nay, tuy bệ hạ có nhiều phi tần, nhưng gần như bệ hạ không thể gần được người nào.

– Đúng vậy, đôi khi trẫm thèm ân ái, nhưng dương vật cử lên một lát rồi lại xẹp xuống. Hơn nữa trẫm nh́n những phi tần, mà cảm thấy rửng rưng. Như vậy là thận dương của trẫm bị liệt chăng? (9)

Ghi chú   

(9) Như vậy nhà vua bị bất lực sinh lư. Bất lực sinh lư gồm có 18 loại. Loại của nhà vua gọi là « Cúi đầu e thẹn ». Chứng bệnh này Tây-y bó tay. Tuy nhiên tổng hợp y học Âu-Á th́ trị được. Tác giả đă tŕnh bầy phương pháp trị chứng « Cúi đầu e thẹn » trong đại hội quốc tế về t́nh dục học (Sexology) năm 1992. Sau,phụ đính bộ Anh-linh thần vơ tộc Việt, do Xuân-thu Hoa-Kỳ ấn hành 1994. Xin đọc: Giáo-huấn t́nh dục bằng y học Trung-quốc cùng tác giả.

Dương B́nh nói nhỏ:

– Không phải! Không phải! Chẳng qua là không có phi tần nào được bệ hạ sủng ái mà thôi. Nếu như có người nào mà bệ hạ sủng ái th́ lập tức dương cử ngay.

(Trích trong Nam Quốc Sơn Hà, Q2, hồi 11, trg. 29-44, Đại Nam, USA xb 1996)

Y ÁN THỨ SÁU

Thần phi Ỷ Lan

Niên hiệu Thần-vũ thứ 3 đời vua Thánh-Tông nhà Lư, tháng 12 mùa đông (l071), Thần phi Ỷ lan se ḿnh. Vua sai sứ thỉnh Minh Không thiền-sư trị bệnh.

Thiền sư nhập cung, quan Thái-giám dâng trà và cây trái cung dàng. Ngài đốt hương nhắm mắt ngồi nhập tĩnh. Cung nga phục Thần phi ra. Thần-phi nói :

– A-Di Đà Phật, bạch Đại-sư phụ. Ngài giá lâm, đệ-tử không làm lễ được mong Sư phụ đại xá.

Ngài mở mắt ra, chắp tay đáp lễ, nắm lấy hai tay Thần-phi mà chẩân mạch.

Thần phi khóc :

– Bạch sư phụ, con mới xa sư phụ có mấy năm, mà bệnh đẵ ra nông nỗi này, không biết có phải nghiệp chướng hay không ?

Ngài đáp :

– Không hẳn thế đâu, khi Thần phi c̣n là một thiếu nữ nơi dân dă, đời sống vô tư không phiền không lo, v́ vậy Thất t́nh đều b́nh thường. Ở dân dăù, th́ Thiên-khí trong lành, ẩm thực tiết độ, nên Khí huyết đều xung thịnh làm sao mà bệnh được. Mấy năm nay Thần-phi vào cung, kinh-đô là chỗ thiếu thiên-khí sạch sẽ, lại ẩm thựïc, tửu nhục nhiềâu. Hơn nữa qua hai lần sinh đẻ, khí huyết, chân khí càng yếu đi, nên ngoại tà mới thừa cơ xâm nhập.

Thần phi bạch :

– Cách đây năm ngày, đệ tử nhân đi thăm dân về, gặp gió lạnh, rồi lên cơn sốt, đau nhức, trong cổ đau, miệng khô. Kế sau đó th́ hai khớp xương ở cườm tay sưng lớn, đau nhức chịu không được. Hôm nay tay không đau nữa mà đau sau cổ và đầâu gối.

Thiền sư Minh-không an ủi :

– Thần-phi bị sốt nóng, rùng ḿnh, thích trùm đầâu mà ngủ, cái đó gọi là Ác hàn. Ta vốn biết tiền nhân nhà Thần-phi  đều bị chứng Phong-thấp, ta liệu rằng sau Thần-phi thế nào cũng bị di truyền chứ chẳng sai.Không ngờ bệnh phát sớm thế. Ta bắt rnạch của Thần phi, thấy "Phù" mà "Khẩn". Máu tự tim chảy ra chân tay, cơ thể, nhưng nay sau cổ, đầu gối, tay sưng làm khí huyết tắc nghẽn, v́ vậy mạch không thông đều. Ta thấy khi  tới mau trễ thất thường. Chứng bệnh của Thần-phi là phong-thấp di truyền.

Quan Thái-y hỏi :

– Bạch sư phụ, đệ tử cũng biết cái nguyên lư đó, nhưng không hiểu sao hôm trước Thần phi đau ở cườm tay, đệ tử dùng châm trị tại Ngoại-quan, Hiệp-cốc, Dương-khê, Dương-tŕ, Dương Cốc. Được 2 ngày th́ bệnh lại lên cổ và đầu gối, sợ  rằng bệnh chạy vào Tâm-tạng th́ khó thay nên đệ tử mới xin thỉnh đại-sư phụ về.

Ngài giảng giải :

– Quan Thái-y là người giỏi, nhưng chưa hiểu tận gốc của chứng bệnh. Ban năy bần tăng nói : "Bệnh của .Thần phi là do tiền nhân di lại. Tiền nhân đă bị chứng này th́ khí, huyết vốn đă hư. Thần–phi thọ lănh tiên thiên khí yếu đuối cuả tiền nhân, nay lại.nhân khí hậu đế đô không lành, làm việc nhiều khí hư. Ẩm thực bất thất thường huyết hư. Sinh đẻ nhiều th́ Hậu~thiên  khí tổn hại. Cho nên bệnh mới phát khi thọ lănh Phong hàn trong chuyến thăm dân. Chứng Phong thấp do phong, hàn, thấp nhân cơ thể khí huyết hư mà xâm nhập. Phong là dương tà, "Thiện hành đa biến". Thấp, hàn là âm tà. Thuyết Aâm Dương của Lĩnh nam ta th́ khí là dương, huyết là âm. Khí huyết hư th́ âm-hư, nên dương tà là phong dễ xâm nhập. Cho nên ba tà là phong-hàn-thấp cùng nhập mà huyết hư th́ phong nhập mạnh hơn, mới sinh ra chứng phong thấp mà nay đau chỗ này mai đau chỗ nọ. Thái y châm như vậy là đúng phép, song phong tà c̣n vẫn chạy, phải làm sao "đuổi nó ra, hoặc giữ nó lại".

Ngài rút kim ra châm lên người Thần phi , rồi hỏi Thái-y :

– Quan Thái-y có hiểu nguyên lư này không?

Đáp rằng :

– Đệ tử hiểu không hết. Nguyên-lư châm cứu là Đau chỗ nào th́ châm chỗ đó, hoặc kinh qua chỗ đau, th́ dùng kinh ấy. Thế mà nay Thần-phi đau ở cổ và đầu gối, ngài châm Phong-tŕ, Đại-trùy, Bách-Hội, Khúc-tŕ, Phong-phủ, Hiệp-cốc, Dương-lăng-tuyền, Huyền-chung, Kiên-ngung, là tại sao?

– Thiện tai, thiện tai. Thái-y có biết rằng : Phong là Dương-tà, nhập vào cơ thể th́ phải qua Thái-dương-kinh, rồi Thiếu-dương, Dương-minh, và các kinh Dương trước. Muốn đuổi dương-tà th́ phải dùng các giao hội huyệt của dương kinh. Bần tăng mới dùng Bách-hộâi, Đại-trùy là nơi giao hội của các kinh Dương.

Thái y chợt hiểu đứng đậy chắp tay vái 8 vái :

– Sư phu thực là Thần y, đệ tử hiểu ra nguyên lư rồi. C̣n huyệt Phong-tŕ là giao hội của Túc-thiếu-dương kinh với Dương-duy. Hiệp-cốc là lạc  huyệt của Thủ-dương-minh kinh, Khúc-tŕ là hiệp huyệt của Thủ dương-minh kinh. Sư phụ dùng hai huyệt này để Sơ phong giải biểu.

– C̣n Dương-lăng-tuyên, là hiệp huyệt của Túc-thiếu-dương-kinh, cũng là huyệt Cân hội Dương lăng tuyền, bần-tăng dùng nó để giải phong và làm cho gân cốt mạnh lên. Huyền chung là huyệt rất quan trọng để trị đau nhức, bởi nó là lạc huyệt của Túc Tam-dương-kinh. Tủy hội Huyền-chung cho nên đau xương tức là đau tủy phải dùng đến. Kiên-ngung nó la giao hội huyệt của Thái-dương-minh kinh và Dương-kiêu. Cũng cùng nguyên lư để  Sơ phong.

Thái y hỏi :

– Bạch Sư-phụ, Phong-thấp là do ba tà phong, hàn, thấp" và khí huyết bất túc mà sinh. Duy có điều huyếât-hư nhiều, nên phong nhập nhiều.Vậy sư phụ không trị các chứng kia  hay sao?

Thiền-sư cầm kim châm tiếp :

– Thái-y quả thực giỏi . Ta đă định trị như vậy, song phải trị phong trước. Hàn, thấp trị sau. Trị phong phải trị huyết đă.

Nói rồi ngài châm huyệt Cách-du, Huyết hải, và tại nhữmg chỗ đau.

Hai hôm sau th́ Thần-phi không đau đớn, cũng không c̣n ác-hàn nữa, ngài dặn Thái-y :

– Phong đă trục ra rồi, th́ nó không chạy nữa bây giờ chỉ c̣n trị phong, hàn, thấp mà 3 tà bằng nhau. Thái-y chỉ việc cắt một vài thang thuốc : Có đủ vị sơ phong, tán-hàn, trừ  thấp và bổ thâïn để bổ khí, bổ can để bổ huyết, bởi  can tàng huyết, thận chủ dương nguyên khí.

Minh Không  Thiền sư đi rồi,Thái-y cắt thang thuốc như sau :

Độc-hoạt 3 tiền,
Pḥng-phong 3 tiền
Sinh khương 2 tiền
Đào-nhân 4 tiền
Hồng-hoa 4 tiền
Đỗ-trọng 4 tiền
Cam thảo 3 tiền.

Thần-phi uống hết 4 thang th́ người khỏe mạnh hồng hào, ăn ngủ ngon, sai sứ lên chùa lễ tạ Phật và cúng dường Minh Không Thiền sư.

Y ÁN THỨ BẢY

ĐIỀU TRỊ CHỨNG PHONG THĂP ĐỜI TRẦN 1285

Đoạn dưới đây, nói về Thủy Tiên công chúa, vợ danh tướng Phạm Ngũ Lăo chữa bệnh phong thấp cho quân sĩ. Thủy Tiên công chúa là một vơ tướng siêu việt, một nhà y-học lừng danh thời Trần (Đông A).

Câu truyện này xảy ra vào năm 1285....

Ngày 21 tháng Chạp năm Giáp-thân (27-1-1285). Thái tử Thoát Hoan cùng các tướng Toa Đô, Ô Mă Nhi mang 500.000 quân sang đánh Đại Việt, đây là lần xâm lăng thứ nh́. Lần  xâm lăng thứ nhất năm 1257 đă bị đánh tan. Quân Nguyên từ Lộc b́nh, Lạng sơn như vũ băo tiến xuống Thăng long. Ải Khâu cấp bị thất thủ. Phạm Ngũ Lăo cùng vợ là Thủy tiên công chúa mang quân từ Vạn kiếơp lên tiếp viện chận đánh giặc.

 Trên đường lên tiếp viện gặp đám quân trấn giữ Khâu-cấp rút chạy, mười người th́ sáu người bị bệnh. Công-chúa truyền cho y-sĩ xem bệnh quân sĩ.

Y sĩ tŕnh :

– Khải bẩm Công-chúa, họ đều bị chứùng bệnh giống nhau : đầu gối sưng, người ớn sốt mà rét lạnh, chúng tôi xem qua, rơ ràng bị Phong-thấp cả. Xin Công-chúa cho họ uống thuốc, cho họ về hậu quân nghỉ.

Công-chúa quắc mắt lên :

– Giặc đến nơi rồi, cho quân về nghỉ, giặc tràn tới th́ nước mất. Thà cho quân đánh giặc, quân chết, nước c̣n, hơn là quân c̣n nước mất.

Công-chúa truyền lấy gừng tươi, thái thực mỏng, phát cho mỗi người một nhát, lại truyền họ bỏ miếng gừng lên huyệt Khí-hải, mang thuốc cứu bỏ lên gừng, lấy hương đốt thuốc cứu. Dạy họ :

– Y-sĩ trong quân không đủ, vậy chư quân hăy tự chữa lấy. Nào bỏ gừng lên bụng dưới.

Chư quân hỏi :

– Bụng dưới là chỗ nào ?

Đáp rằng :

– Huyệt Khí-hải dưới rốn một tấc rưỡi. Chư quân cứ lấy hai ngón tay trỏ và giữơa chiều ngang là một tấc rưỡi. Để hai ngón tay vào rốn, nhớ để mép hai ngón tay vào vành dưới rốn, mép c̣n lại ở chỗ nào th́ đó là huyệt Khí-hải...

Công-chúa truyền cho y-sĩ làm thử. Y-sĩ gọi một binh, bảo cởi áo, lấy tay đo, chỉ huyệt Khí-hải, để miếng gừng lên huyệt, lại lấy viên ngại bằng hạt bắp bỏ giữa miếng gừng mà đốt.

Ngại cháy, người lính nằm yên, khi ngải cháy sắp tới miếng gừng người lính kêu lên :

– Ối giời ơi, nóng chết đi thôi.

Nhưng miệng vẫn cười :

– Nhưng nóng mau hết quá.

Chư quân được chia làm từng cặp một, người nọ đốt cho người kia, thay phiên nhau . Tiếng cười nói, tiếng kêu "Cha mẹ ơi", "Ối trời ơi", "Nóng quá", "Cháy dạ dày rồi" ầm lên. Mọi người được dốt 3 viên ngại. Đốt xong th́ mồ hôi ra nhễ nhăi.

Y sĩ hỏi :

– Khải bẩm Công-chúa, nguyên lư chữa bệnh như thế nào ?

Đáp :

– Quân Đông A được luyện tập vơ nghệ gần mười năm nay, để chuẩn bị chống Mông-cổ, người nào khí huyết cũng sung thịnh khoẻ mạnh, th́ không thể có bệnh phong thấp hoành hành dễâ dàng. Nhưng qua mấy ngày giữ ải Khâu-cấp, đánh nhau suốt ngày đêm, thần trí bị tổn hại, ăn uống không điều độ, sức lực mệt mỏi, nên khí và huyết đều hư cả. Ải Khâu-cấp mất, bỏ ải chạy, lội qua sông 2 lần, nay đang tiết đông-chí lạnh lẽo mà lội qua sông th́ hàn tà xâm nhập. Bởi vậy mới bị phong thấp phát.

Y-sĩ đă biết phong thấp có 4 loại là phong-thấp-chạy, phong-thấp-lạnh, phong-thấp-tê và phong-thấp-nhiệt. Đây là chứng Phong-thấp-lạnh mà thôi. Khi phong, hàn, thấp cùng xâm nhập th́ sinh bệnh. Nhưng bệnh t́nh khác nhau nếu tà nào mạnh. Chư quân bị Phong thấp-lạnh, th́ tức là khí yếu. Ta cho cứu nhiệt nơi huyệt Khí hải để vượng khí lên.

Y-sĩ hỏi :

– Chỉ cần cứu Khí-hải mà đủ hay sao ?

Đáp :

– Người thường th́ không đủ, nhưng chư quân ai cũng giỏi vơ nghệ, bản chất khỏe mạnh, ta chỉ cần cứu Khí hải, là chân khí tự kích động mà làm tan hàn đi.

.....

Chư quân đều khỏi, duy chỉ có 9 người, tay trái đau nhức, dơ tay lên không được.

Công-chúa bảo y-sĩ :

– Đây là những người trong gia đ́nh ắt có bị Phong-thấp, đối với người thường th́ trị lâu lắm, nhưng họ là người giỏi vơ, dễ trị lắm,  chỉ cần làm cho thông lạc là bệnh tự mất ngay.

Công-chúa lấy kim châm huyệt Kiên-ngung, Tư nhu, Thiên-tông, Cự cốt, Nhu-du. Châm xong gọi 9 người khác lại, sai mỗi người giúp bệnh nhân bằng cách dùng ngón tay búng lên kim. Cứ mỗi kim búng 50 cái, lại búng kim khác, tàn nén nhang th́ cánh tay người bệnh tê không biết đau là ǵ.

Công chúa nói :

– Nào bây giờ nghe ta dạy đây : Các người nhổâ kim ra thực mau, nhớ đứng phía sau người bệnh mà nhổ. Nhổ xong tay phải đè lên lưng bệnh nhân, ḷng bàn tay trái để vào cùi chỏ bên đau bệnh nhân, rồi đẩy trở lên. Tay đè trên lưng th́ đánh vào lưng bệnh nhân theo thứ tự từ cổ xuống đến vai.

Chín người lính làm như lời Công-chúa dạy để giúp đồng đội. Chỉ cần dằn tay mấy chục cái, th́ đẩy được tay người bệnh lên cao. Chư quân đều reo ḥ. Công-chúa lệnh cho người bệnh tựï cử động tay lấy bằng cách đi một bài quyền thực mau. Quyền đi xong th́ vai hếtđau, người nóng bừng, mồ hôi xuất dầm dề.

Công-chúa giảng cho Y-sĩ :

– Khi kinh lạc bế tắc, đợi châm cứu hoặc uống thuốc xong thi lâu quá, nên ta dùng tay đánh lên chỗ bị bế tắc. Bất thông tắc thống nay đă truyền cho đập vào chỗ đau tức là đánh tan tà khí ứ đọng chỗ đó. Thông tắc bất thống.

(Trích Anh hùng Đông A - Gươm thiêng Hàm tử)

HẾT

trở về Mục Lục